28 tháng 2, 2013

BẢN LÀM… HỘ


Phóng sự


    Cả bản hành nghề… làm hộ! Thoạt nghe cứ tưởng dư giả rồi thì làm từ thiện, hay đại loại một việc tốt nào đó của những tấm lòng tốt, nhưng không phải thế. Làm hộ là cốt để cái bụng khỏi đói, cái lưng khỏi lạnh, và bọn trẻ con khỏi thất học… 

CUỘC VIỄN CHINH KHỔ ẢI


Phóng sự

     Một ngày tháng 9/1979, có 2 chuyến xe chở 54 hộ nông dân nghèo thuộc xã An Khê (Quỳnh Phụ, Thái Bình), lên xã Chiềng Sinh huyện Tuần Giáo xây dựng kinh tế mới. Theo kế hoạch ban đầu, công việc của họ là sản xuất lúa giống, làm ngói, nung vôi và lập trang trại chăn nuôi. Tuy nhiên sau 29 năm, những gia đình nghèo ấy đang sống rất chật vật và một số người phải làm những việc không phải “kinh tế mới”...

VÀNG CHINH SÁNG


Phóng sự


Cũng như bao người đã từng đến Chinh Sáng và rời Chinh Sáng; lần này quay lại không phải để tìm người đi tìm vàng như chín năm trước; mà là đi tìm cảm xúc về một bộ mặt mới, vốn lừng danh của “chốn giấu vàng”…

27 tháng 2, 2013

Ma Núi Rắn


Gần đây, trên Núi Rắn có một đôi rắn chúa, chẳng hiểu từ đâu bò về, cắn chết hai gã lâm tặc dám cả gan chặt trộm sưa đỏ.

VŨ KHÚC SÊNH TIỀN DƯỚI CHÂN NÚI PHA ĐIN



NÀO PÊ CHẦU Ở PU LAU

        Khi chít bạc trắng trên đầu núi Trông Pa Y (mào gà), là lúc tết từ trên nương, trên rừng theo vào bồ, vào hòm và, vào cả những cái… “thủ lợn” còn đang thả rông trên các mảnh nương mãn vụ. Những con gà, con vịt mang trong mình vài ba yến thóc cũng đã khoe ra những bước lặc lè. Người Mông đơ Pu Lau (xã Mường Nhà, huyện Điện Biên) đang đếm lùi từng ngày để mong tới gần hơn tết chính trong năm Nào Pê Chầu. Mười một ngày. Mười ngày. Chín ngày…

CHỢ TÌNH BIÊN ẢI

         Chẳng biết có từ bao giờ, chợ tình Dào San (Chợ của cụm 8 xã phía bắc của huyện Phong Thổ - Lai Châu) họp 4 phiên một tháng vào các ngày chủ nhật. Ngoài việc mua bán, người ta, ai “Có vợ đem theo vợ/ Có chồng rủ cả chồng/ Không có cứ đến chợ/ Sẽ gặp người đi không… (thơ Trương Hữu Thiêm). Chợ tình là thế, cứ gì phải mua bán. Người ta đi chợ để chơi, để xem, để tìm nhau, hò hẹn nhau, giao đãi nhau… Có người đi chợ mang hàng về. Có người đi chợ mang… vợ về…

NGƯỜI DÙNG MIỆNG VẼ CHỮ

       Mỗi sáng, sau tiếng gà rừng nhắc canh vọng từ trên núi Pắc Bút xuống, hòa vào nhịp trống trường vọng lên từ thung lũng Động Hoa, cũng là lúc chị Mung sập cửa, khóa nhốt “hòn” vàng một cách cẩn thận. Trước khi đi, chị không quên dừng lại, áp tai lên vách. Trong khoảng không lờ nhờ, tĩnh tại của ba gian nhà vách đất vọng ra tiếng vo giấy, tiếng xô dát giường… Đôi khi là giọng nhạc vàng buồn ảo não: “Đời là vạn ngày sầu, biết tìm vui chốn nào…” (Hảo không mặc được áo, quần phải may rộng hoặc xé ống ra mới mặc được).

KHÚC KHUẤT NGÃ BA ĐÈO

        Đèo Chiềng Đông chẳng còn âm tiếng súng. Ngã ba Cò Nòi giờ không còn lấp láp sau bạt ngàn lau và thấp thoáng ban, mà nao nao, mà sừng sững và thanh bình bởi có oai linh của những chiến sĩ thanh niên xung phong ngày đêm đứng thức, như thể canh cho Tây Bắc ngủ. Trời Cò Nòi tháng này ba mùa. Từ nửa đêm đến chín giờ sáng là mùa đông, trưa chiều là mùa hè, còn lại là thu. Heo may se sẽ, gai ốc mơn man khiến những mặt bằng bê tông thô cứng và choáng ngợp ở ngã ba đèo mềm ra như da con gái đang nói lời của mây, của gió…

KỲ VĨ PHA ĐIN

        Mùa xuân đã ngưng lại trên những quả ban, dưới cung đường tất bật đè nặng lên những chiếc gầu xúc, những thảm mìn giăng dọc hai mái núi; đánh lật từng mảng taluy đất, đá xuống để cho con đường ngoắt ngoéo, quoanh co, xếp tầng trên núi Pha Đin thấp xuống, rộng ra, thẳng hơn và ngắn lại; góp phần cùng cả con đường 6 phục vụ kịp thời mục tiêu chiến lược phát triển của vùng Tây Bắc với các vùng khác trong cả nước, cũng như với quốc tế...

GIỌT CHÂU BỖNG NGHẸN GIỮA DÒNG

         Khuya. Chiếc máy tính nóng tính, “treo” như cột cổ chữ nghĩa lên xà nhà. Ngả cái cảm hứng ra tựa ghế. Đêm đông Tây Bắc đổ nước đá vào trong quần áo. Thị trấn nhỏ hôm nay lạ, thanh niên biến đâu chẳng quấy nhiễu gì. Bỗng chuông điện thoại như vạng thông điệp cấp cứu vào đêm. Bà chủ làu bàu sau cú thót người. Bên kia, giọng bạn văn giục thúc: “Nhân vật của ông liệt giường rồi đấy!”.

DƯỚI CHÂN NÚI VÁCH THƯNG TRỜI

        Chỉ cách nhau một tiếng gà gáy, mà đi sao hun hút, sao vời vợi quá. Đúng là gần mắt xa chân mà. Dẫy núi Vách Thưng Trời (tiếng Thái là Pu Pha Phạ) thì đứng ở đâu mà chả nhìn thấy, nhưng tôi muốn nói chuyện khuất lấp dưới chân núi kia. Một lặng lẽ? Một trầm kha? Hay khoảng trũng của con người nó thế? Nghiền xát tới mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu! Nằm lọt vào giữa bụng dẫy núi “rào chắn bản”, bản Sẳng, xã Ngối Cáy, huyện Mường Ảng, (Điện Biên) vốn chẳng có biểu hiện gì rực rỡ kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay bởi cái sự ngại văn minh, ngại tiến bộ và ngại cả cách người ta đem mình ra nói chuyện như một sự thật. Kinh tế bản Sẳng thì chẳng ai nhắc đến bao giờ, nhưng nợ nần bản Sẳng lại được xem như một trường kỳ ký sự.

CHIỀU DÀI LÒNG DÂN

           Mùa xuân vẫn đang cặm cụi làm việc trên vách núi. Những chùm hoa ban nhõng nhẽo như cô gái Thái đang yêu, khoe sự đẹp hết cỡ ra trước thiên nhiên, làm cho người ta thèm muốn chết. Trên con đường chen chúc mây, núi, đá và vực; ông già mùa đông gầy gộc buông tay khỏi những đoạn cành cong, vội vã chống gậy ra đi, mang theo hơi hướng sương mù và những thớ biểu bì cằn cỗi. Còn ở lại là triệu triệu viên ngọc bích, li ti như những giọt nước mưa, đang lớn phổng lên từng giờ trên điệp trùng kẽ lá…

VỊ ĐẠI BIỂU NGHE LỎM

        Dải sương sớm phủ một lớp dày trên những bờ vai áo chàm vạm vỡ, ngày một xuất hiện nhiều trên các ngả đường dẫn về từ ba vùng của Mường Ảng (Điện Biên). Anh nông dân người Mông Lý A Lệnh (Bản Nậm Chan 2 - xã Mường Đăng) quẳng cái xe máy hãng Hon Đa mới cóng vào sân UBND huyện, nói một câu như để lưu lại chút khí chất cao như rặng núi Pơ Mu vào trong trí nhớ của những người vùng thấp: “Ra thị trấn nhiều như đi chợ, nhưng không lần nào thấy tim mình khó bảo như hôm nay. Bà xã ngồi sau cứ hỏi, mười lăm năm nay dù làm ăn được 100 triệu vẫn không thấy ông vui, sao hôm nay cười mãi, như là bị “ma làm” ấy?”

SÓNG DẬY ĐÀ GIANG

        Từ trên đỉnh Ngụy Sơn (Vân Nam -Trung Quốc), vượt qua Nậm Te (Mường Tè - Lai Châu), con sông Đà trườn mình giữa hai dãy tân kiến tạo đá vôi Phan Xi Păng và Pu Đen Đinh, để rồi lao cắm xuống, bỏ lại sau lưng hàng chục thác nghềnh sôi sùng sục, kéo dài mãi cái hùng vĩ xuống tận Trung Hà ; nơi hợp lưu với sông Thao (sông Hồng) tạo nên một ngã ba kinh tế nổi cực kỳ sầm uất và tấp nập…

ĐẤT GẬP GHỀNH

Như một cái xác cáo, mảnh đất nằm lọt dưới chân đèo Tằng quanh năm mây trắng; vào những năm 70, được người qua đường đặt cho cái tên đẹp như trong cổ tích: “Thung lũng tiên”. Thế nhưng, những người từng gắn bó với “thung lũng tiên” lại không nghĩ vậy.

LẠY GIỜI, CỎ ĐẤY, BÒ ĐÂU?


Phóng sự

    Cách đây hơn 3 tháng, có một thông tin đủ sức làm rung rinh trái tim nghèo của rất nhiều hộ nông dân khốn khó thị trấn Mường Ảng (huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên). Số là sẽ có một Dự án gì đó về trồng cỏ, về nuôi bò, nghĩa là về phát triển chăn nuôi đại gia súc dành cho những nông dân cần được giúp đỡ về giống vốn cũng như phương thức làm ăn. Chà, thật là quý hoá và thật là cảm động! Không ít người mới nghĩ tới sự no ấm ngày mai, mà có đêm vừa chợp mắt đã giật mình như nhặt được vàng...

ÁM ẢNH SÚNG TỰ TẠO


      Phóng sự

     Theo thống kê của Phòng Quản lý hành chính (Công an Lai Châu), hiện số súng tự tạo quản lý được trên địa bàn toàn tỉnh là 11.145 khẩu. Súng tự tạo (STT) hay còn gọi là súng kíp, do người dân, bằng những kinh nghiệm truyền đời, đã chế tạo ra nhằm phục vụ mục đích sử dụng tùy ý của cá nhân các hộ gia đình dân tộc thiểu số Tây Bắc. Trước đây, STT đã từng làm kinh hoàng bọn giặc cướp nước, lũ cướp của và làm ngã gục hầu hết các loài thú hung hãn tàn phá nhà cửa, mùa màng và mạng sống của nhân dân; nhưng bây giờ STT đã và đang là nỗi lo canh cánh không chỉ của các nhà đương kim quản lý, mà còn của cả các thân nhân người sử dụng…

26 tháng 2, 2013

NGỦ LẦN CUỐI TRƯỚC KHI LY HÔN

Mình về ngủ với nhau thôi
Một đêm nay nữa để rồi chia tay

ĐÀN ÔNG MIỀN NÚI

(Kính tặng cố nhà thơ Lương Quy Nhân)

Sinh ra từ hũ rượu cần
Men rừng nuôi dưỡng thành thân cây rừng

ĐẾM NGƯỜI ĐẾN CHỢ

Chợ tình vừa ngủ một đêm
Đâu đây vẫn tiếng sáo mềm à ơi

MẸ ƠI, CON CHIẾU THƯỚC PHIM CUỘC ĐỜI

Con thâu tiếng mẹ vào tim
Đêm đêm chiếu lại thước phim cuộc đời

CHỈ CÒN PHẾ TÍCH

(Ghi lại trên đường tìm cha)
   
Ngổn ngang nòng, bánh giữa đồng
Vẫn như là thể phòng không thủa nào

GIẤC MƠ CỦA RỪNG

(Kính tặng các liệt sĩ TNXP chiến dịch Điện Biên Phủ)

Ai đang mơ giấc mơ của rừng
   để cánh rừng ấy lại mơ về những chồi cây và những ngày lá đổ

THƯ TỪ BIÊN GIỚI


          Đã lâu lắm không thư về thăm mẹ
          Căn nhà tranh chật ních tiếng điếu cày

EM GÁI QUÊ

(Tặng Cao Sơn)

Ráng chiều nào rơi sau luỹ tre xanh
Để em gái kín thùng đôi ra múc

PU LAU MÙA LAU TRẮNG


Đêm mùa đông Pu Lau trong veo
   núi Xa Cu Cha (*)  chặn sương mù vào bản
      cho em xanh,
                                    tôi xanh,
   trời xanh,
      còn lau trắng.

LÚC SƯƠNG TAN


Sương tan
   đàn lợn no thân chuối thái, nằm chờ béo trục béo tròn

VÙNG SÂU


Trời không biết có vùng sâu
Đất không biết có vùng sâu

MỘT THOÁNG LAO XẢ PHÌNH

                                           Núi cứ bay đi để mây đứng đó
                                           Tiếng đàn môi làm ấm những mái nhà

MÙA GẶT


Ngô nhuộm vàng lưng núi
Lúa óng mượt lòng thung
Sắn căng tròn bụng đất.

TIẾNG KHÈN TỪ BẢN MỚI

(Tặng đồn biên phòng 281 Giào San)

Có cô gái người Mông di cư
   trở về từ bên kia biên giới

TUỔI 17

Chẳng mời người vẫn xuống
Không rủ ta cứ lên
Rượu ngô  cùng nhau uống
Say rồi sẽ hỏi tên.

LỜI MỜI VÙNG CAO


Hãy một lần đến với quê tôi
Tây Bắc!

ĐƯỜNG NÚI


Đã bao đời
   giữa rừng xanh núi thẳm
      những con đường
như sợi mây mỏng

MƯỜNG TÔI


Nhà có tiệc.
Cha sai ra đầu sàn đánh ba hồi mõ
tiệc sắp xong lại đánh hai hồi

CHỢ TÌNH BIÊN ẢI

(Mến gửi Giào San)

           Ai bảo không bùa ngải
          Thử đến chợ Dào San*
          Sáo dụ hồn con gái
          Lơ lửng tít non ngàn.

CHIỀU BẢN MÔNG


Bản Mông đón chiều buông về sau nhất
Khi bóng đêm đã trùm khắp thung sâu

RÉT NGỌT


Truyện ngắn in TC GĐ 


Bấc về.
          Sương mù như băng lấy mắt. Người đàn bà lần đất đi cho kịp phiên chợ sáng. Gánh rau cải chồi đã úa vàng vì thiếu nước và vì sương muối. Chẳng ai bu quanh như cảnh chợ xưa.
Là vùng đất vắng, hàng chục cây số vuông chẳng có người ở. Từ ngày có quyết định tách huyện Lâm, thành lập huyện mới, người ta đổ về, những miếng đất nông nghiệp, lâm nghiệp nhanh chóng đổi màu bìa thành đất thổ cư. Khu trung tâm là sự chen chúc của những ngôi nhà vuông vức như những chiếc hộp mì tôm, quăng trên những miếng đất cũng được xắt khúc vuông vức. Hai cái vuông chằn chặn tạo thành một cái chướng. Cái chướng ấy đập quất vào nền kiến trúc chỉ thực sự phát huy khi được trả công. Tất tật đều là dãy một. Đằng sau mênh mông chó ỉa và cỏ dại. Một sự hỗn mang khó bảo. Người ta cho nhau những cái địa chỉ mới toe: Khu văn hóa trung tâm huyện lị E o! Cái khu trung tâm chồng đống chồng khê những người là người. Nhà bên này bán hàng bên này cho nhà bên kia. Nhà bên kia lại bán hàng bên kia cho nhà bên này. Sự sầm uất kéo dài khoảng chừng một tiếng hú rồi tắt ngấm bởi một cánh rừng hoang, thâm u, trù mật. Thứ bảy, chủ nhật, trừ vài ngôi trường đang kỳ chạy đua phổ cập, toàn khu trung tâm còn lại những xác nhà khóa trái, chẳng có giá trị gì. Người ta vào những ngày hành chính, rồi ra để hít thứ không khí đầy đủ, xô bồ. Tạm trả thị trấn lại cho hoang vu và tiếng lũ côn trùng kêu cóc cáy.
Người đàn bà chống cằm, ngồi lên chiếc đòn gánh cong như tấm lưng còng, nhẵn thín, nhìn trân trối vào những bước chân lạnh lùng bước qua ánh mắt mời gọi. Lâu lâu, một vài người đến xới tung gánh rau già lên rồi bỏ đi. Người đàn bà không nói một lời. Từ ngày bà xuất hiện ở chợ này, không ai thấy bà nói một lời. Bán gì, trả giá bao nhiêu tự người mua trước sau định liệu. Có tiếng xe u oát gầm sòng sọc dưới chân dốc Mèo. Ai đó thốt lên: “Phệ vào các bác ơi”. Đúng rồi, lão Phệ vào. Lão Phệ làm nghề đồ tể ở thị trấn huyện Lâm. Tách huyện, lão bán đàn bò sắm chiếc u oát hai cầu, hằng ngày chở rau quả, mắm muối, xăng dầu, kim chỉ… vào E o bán. Chưa kịp dừng bánh, người ta đã nhảy ào lên thùng xe không mui, không cửa, vần những bao tải rau cải bắp dập nát xuống đất để nhận phần. Các thứ tạp hoá khác, quán nào cần thì đặt, còn rau mang vô tư, không bao giờ ế. Họ phòng mưa. Chỉ cần một trận mưa nhỏ là cả tuần nắng xe mới đi lại được. Ở đây toàn viên chức, không ai tăng gia ngoài người đàn bà câm. Lão Phệ mà ốm là cả huyện ốm lơ ốm lửng. Người ta mong lão như mong một thứ bùa. Lão vừa bán hàng, nói năng văng mạng: “Không mua thì ra chợ Lâm, từ giờ cấm mày lại gần”. “Thôi mà bác, em lỡ lời mặc cả. Em xin lỗi!”. Lão thách những thứ bất khả kháng. Đắt gấp rưỡi, chứ gấp đôi gấp ba cũng còn lãi hơn vượt sáu, bảy chục cây số ra Lâm. 
Quăng chiếc xe lem luốc ngang đường, lão Phệ leo vào một quán phở bò nước lợn chênh vênh trên ta luy, nhưng lại đề là phở bò Nam Định. Lão chửi chủ quán leo lẻo: “Phở mới phọt, chẳng ra cái đéo gì nhưng thích chơi sang. Cho một tô gấp đôi để lấy tí ca-lo đánh nhau với đường”. Mẹ chủ quán trăm sự nhờ cả vào lão Phệ nên vâng dạ tíu tít. Ở đây chưa có ba toa. Vài người làm nhưng rồi dẹp vì không bao giờ bán hết một con lợn. Người dân quen ăn cá khô và mắm tôm bánh. Họ đi bộ nửa ngày đường xuống mua cuộn chỉ về thêu chứ không ai xuống để mua cân thịt. Ăn sáng xong, lão sà vào quán gội thư giãn vắng như có dịch. Cô chủ trẻ, mới đến từ một phương nào xa lắc, thủng thẳng xách xô ra suối. Một lớp băng mỏng bám vào những bụi cỏ quanh bờ. Lão phệ chửi kiểu làm ăn thời tiết nửa mùa, cô chỉ cười. Để có mươi ngàn ăn qua ngày, cô phải cười với cái đầu lần nào cũng bê bết bùn đất, bã rau cải thối và nước làm lông lợn. Cười cả với cái ánh mắt vuốt ve, mơn trớn và láo xược nữa.
Cận trưa, xe lão Phệ hú một hồi còi dài. Lũ lượt xách ra những măng khô, mộc nhĩ, da báo, thóc thơm, mật ong rừng... Có thứ bán thẳng cho lão Phệ. Có thứ gửi ra Lâm, ra thành phố bán được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, vì ở đây cũng mua rẻ như xin. Tiếng xe của lão lại tắt ngấm phía bên kia chân dốc Mèo. Bà câm vẫn bó gối ngồi nhìn mặt trời không đủ sức vạch đám mây mù đặc quánh. Thi thoảng bắt gặp luồng gió đưa mùi bánh rán từ góc chợ thoảng lên, thơm rợn. Cuối cùng cũng có bà hàng đậu đến, bỏ lời thanh minh vào gió: “Lợn hôm nay chẳng có gì ăn” rồi mang cả gánh rau và người đàn bà đi. Gió bấc quật từng cơn vào lưng áo rách. Bên kia biên giới có tiếng súng, nước bạn không cấm săn bắt thú rừng.
   
***

    Cô gái trẻ nằm bẹp trên chiếc sạp tre cuối lều. Sắp đến ngày vượt cạn, bụng cô trồi lên những cú đạp mạnh mẽ. Nhờ trời, cái thai khỏe vì rau cỏ và vì sự im lặng. Người đàn bà mang về một gói mì tôm “cởi truồng”. Cô gái uể oải nhóm bếp. Cái bếp lạnh khó bắt lửa. Bát mì rẻ tiền bốc mùi ngai ngái. Không còn nghén nữa nên cố nuốt cũng vào. Ăn xong, cô gái vác cuốc lên vai. Người đàn bà giằng lại.
Năm cô học lớp 10, hắn đến. Bao nhiêu viện phí của cha cô, hắn chi trả hết. Thế rồi cha cô vẫn chết. Cô vẫn ngã vào vòng tay hắn để trả ơn. Trước đó, Hải đã đến, mãi mới nói được mấy lời: “Đừng! Hãy để trời định… Như thế là tự giết mình”. Cô gái lắc đầu. Hải bỏ chạy, ra tới ngõ còn ngoảnh tiếng lại: “Em giết cả tôi!”. Rồi Hải mất tích. Bố đứa bé cũng mất. Cô gái đi bộ nửa ngày ra để tang. Bố mẹ, họ hàng hắn giật tấm áo sô và vành khăn trắng trên đầu cô xuống: “Đợi đến khi mày sinh được thằng con trai lành lặn, ra để tang nó chưa muộn”. Cô là người thứ sáu. Năm người đàn bà kia đều đã chết, để lại cho xã hội năm đứa bé gái không một mảnh tương lai... Lành lặn ư? Khó hiểu! Cô cũng nào có được lành lặn mà sống...
   
***
Bố phát bệnh, biết chuyện hắn, mẹ đã cầu xin cô hãy vì bà, vì bố… Có lúc bà tru tréo là cô bất hiếu. Bà khóc giá như bố cô không ra chiến trường, không bị tàn phế thì bà đẻ thêm vài đứa nữa để cậy: “Nuôi khổ nuôi sở để rồi nó mặc cho chết”. Mẹ cô quấn lấy hắn. Bà mở đường cho hắn đến cô. Gã “con rể miệng”, gọi mẹ ngọt như cắt.
Hắn con một. Bố hắn là giám đốc một doanh nghiệp tư nhân giàu có. Hắn vào huyện biên giới này là vì bố hắn trúng thầu một dự án tái định cư đồ sộ. Cô là hoa khôi thanh lịch, ba năm liền do Đoàn trường liên cấp 2 - 3 tổ chức. Cô đẹp. Nét đẹp nền nã, dìu dịu. Cặp mắt như hồ nước, đắm đuối trong đó bao xác bì hồn cốt. Bố cô giáo dục bằng “quân lệnh” nên hầu như cô không kết bạn trai. Học xong là về, tay vườn, tay bếp. Chuyện đôi mách thường ngày ở xóm, người ta nói cô là con một, nhưng là của độc. Có một không hai.

***

Thi thoảng cô lại lôi tấm giấy gọi nhập học chuyên ngành ngữ văn của trường đại học sư phạm I ra xem, rồi khóc. Tiếng khóc lần nào cũng bị ngậm vữa ra trong họng, không phát thành lời. Hồi còn bé, cô thường nghe bố ước, giá như họ nhà mình có một người đỗ vào đại học. Chỉ cần đỗ, rồi thôi. Không học được là do hoàn cảnh. Thi đỗ là thể hiện tư chất giống nòi. Cô nuốt cục bọt nhão nhoét âm thanh xuống thực quản. Ngôi nhà rùng mình sau một cơn gió. Mưa dai nhách như đứa trẻ nô nhây. Cây chuối già thối rễ đổ ập xuống con đường mòn cỏ úp. Mẹ cô mặc mưa vun xới cho mấy củ xu hào còm xơ xác, chờ tết.
Mẹ cô không nói kể từ hôm bố đứa bé chết. Cô thì câm ngay từ khi mang thai. Mọi lời nói với cô đều trở thành đồ thừa và vô nghĩa. Câm lại, thấy mình thanh thản lạ lùng. Cô và mẹ cô đã quá quen nói bằng hành vi. Mười tám năm quấn quýt bên nhau, giờ câm càng quấn quýt. Người đàn bà cũng tự đày mình bằng việc không nói. Sự sám hối dồn vào cái cuốc, cái cào. Mảnh đất cằn cỗi không phải cứ nước, phân, cần, giống mà cây thòi lên được. Cuộc sống như bị chính hai bàn tay và cái đầu bóp méo.
Khi còn sống, thỉnh thoảng hắn đến để nhắc lại hợp đồng mà hắn và cô đã kí. Cô mang thai, hắn chi một trăm triệu. Nếu đẻ cho hắn thằng con trai lành lặn, hắn nuôi con, chăm sóc mẹ và chi ra cho gia đình cô năm trăm triệu. Cô có tiền để trả những khoản nợ mười năm trời chữa trị bệnh hoại tử bộ phận sinh dục cho bố. Không còn cảnh các chủ nợ vài hôm lại kéo đến. Mẹ con cô co bẹp vào xó nhà, câm bặt. Những cái tát, cú đạp nẩy lửa cũng không cạy được hai hàm răng của hai người đàn bà đã quên dùng khẩu ngữ. Bọn họ đập phá tanh bành mọi thứ rồi bỏ đi…
Hồi cô vừa mới quen hắn, người giúp việc của bố hắn nói, mẹ hắn cho bố hắn đi ngoại tình để lấy thêm đứa con nữa, mà sao mãi không được. Chắc trời chỉ cho thế. Hắn được nuông chiều từ bé, đua đòi hút chích rồi dính ết. Bố hắn điên tiết đuổi hắn ra khỏi nhà. Thiếu hút, hắn ăn trộm, trấn lột. Bố hắn vác tiền đi chuộc. Mẹ hắn bảo: “Thà nuôi cho nó chích, mất tiền nhưng không mất mặt”. Và thế là hắn được thả phanh trác táng trong sự cung phục của hai kẻ thân sinh già nua... Kể xong chuyện nhà chủ, người đàn bà ấy khuyên cô: “Cháu tránh xa nó còn kịp”. Có người thương cảm hỏi cô, tại sao biết thế rồi mà vẫn nhắm mắt lao vào? Cô không nói. Kẻ khác sỗ miệng: “Hám tiền! Đáng đời!”. Cô im lặng, không nói mà cũng chẳng khóc. Gió mang những cay nghiệt đi xa khỏi tai cô.
Gió bấc quăng mình vào vách núi ầm ập. Căn lều nhỏ, tranh phên dựng ngược lên như con nhím giương lông dọa dẫm kẻ thù. Người đàn bà câm ráng hết sức vực đứa con gái môi mắt tái nhợt, đang cơn đau đẻ lên chiếc xe bò, gò lưng kéo ra bệnh viện huyện. Mấy đứa trẻ trâu nhúng tay vào giúp cái xe bon hơn. Tất bật không một tiếng rên. Không một lời nói. Chỉ có gió vẽ những vòng cô độc trên đầu đoàn người khập khiễng và rời rạc.

***

Đứa bé trai kháu khỉnh nằm mút ngón tay chùn chụt trong chiếc mẹt, đặt dưới hiên nhà. Một chiếc Land Rover sáng lóa mắt, lao sập vào sân. Bụi lợp một lớp mỏng lên mặt thằng bé. Người đàn bà khoác áo da cá sấu bước xuống, thận trọng tiến về phía chiếc mẹt. Ngắm thằng bé hồi lâu, bà ta thả xuống đó một cục tiền, rồi bế thốc thằng bé chui vào xe. Chiếc xe hắt một vệt khói xanh lét, quay đầu. Cô gái xuất hiện như mọc dưới đất lên, đứng ngáng ngang lối, tay cầm cái liềm cắt cỏ sắc lạnh đặt vào cổ mình. Người đàn bà ban nãy dùng dằng bế thằng bé trả lại cái mẹt. Cô gái vẫn không rời liềm khỏi cổ cô, cho tới khi người đàn bà lạ nhặt cục tiền cất vào túi. Cô gái quăng liềm chạy ào lại phía con. Chiếc xe lao đi, để lại một vệt bụi đỏ, cuộn từng vòng tròn rồi vượt biên sang phía bên kia.
Bà câm nghe lỏm được câu chuyện ngồi lê của các nhân viên sản khoa rằng thằng cháu bà không bị ết. Bà mừng quá, vụt gọi tên con gái: “Hương ơi!”. Rồi như phạm nguyền, lăn đùng ra đất nằm thực vật đã mấy tháng nay. Nhà còn mỗi tiếng khóc của thằng bé làm chủ.
Không lâu sau, chiếc xe Land Rover bóng nhễ quay lại. Đi bên cạnh người đàn bà sang trọng mặc áo da cá sấu, là ông nội thằng bé. Ông rón rén bước vào nhà, rón rén ngồi xuống chiếc chõng tre mọt nhức, lên tiếng:
   - Con à! Ta chỉ có mình thằng Phi, mà nó thì hư hỏng. Việc tốt duy nhất nó làm được là đẻ cho ta đứa cháu trai. Con bỏ lại tất cả, theo ta, ta sẽ lo cho mẹ con con hơn người.
Ngôi nhà trở lại câm lặng. Chiếc Land Rover nhẫn nại đi về thành phố. Trên xe, người đàn bà cằn nhằn:
   - Đã bảo kêu đầu gấu vào trấn quách thằng bé. Nhẹ nhàng!
   - Không được, là con người với nhau.
   - Người gì cái loại...
   - Cứ chờ thêm vài bữa, cô gái cùng đường, nghĩ lại

***

    Bẵng đi hơn tháng, ông Phan lái xe quay vào E o. Ngôi lều trước đây ba bà cháu, mẹ con cô gái ở chỉ còn một đống than đen buốt. Giữa nền là ngôi mộ mới đắp, không bia, không rào. Ba chiếc chân hương bị mối ăn đổ về ba phía. Gió nàng Bân chỉ đủ thốc chiếc cà vạt ca rô đỏ lên quá vai. Ông Phan vội vã đánh xe ra thị trấn huyện E o. Ai cũng lắc đầu. Bà hàng đậu tỏ vẻ biết hơn cả:
   - Hình như cô ấy địu con trẫm mình xuống sông E o. Thợ sơn tràng bảo thế.
Bọn trẻ trâu cãi lại, bởi lần đầu tiên chúng nghe được tiếng cô gái:
   - Đếch phải. Cô ấy bảo thằng bé: “Con là của riêng mẹ, đây là quyển sổ ghi nợ của ông ngoại, mẹ giữ hộ thôi. Mau lớn nhanh rồi trả nợ thay ông con nhé”...
   
Bọn chủ nợ của cô gái nghe tin ông Phan vào E o, kéo bu lại như thể mọi trách nhiệm đều là của ông vậy. Ông Phan gật đầu rồi vứt ra một ca táp tiền. Cơn gió bấc cuối mùa hơn hớt thổi. Lạnh bủa tứ bề. 

M.A 8.10.2008

TƯ THƯƠNG LÁI CHIẾC XUỒNG 200 HỘ


Phóng sự


      Công ty cây công nghiệp Điện Biên (Cty) bị cơ quan điều tra Công an tỉnh Lai Châu khởi tố hình sự ngày 17.3.2003 với số tiền tham ô là 380.676.874đ; tiền trốn thuế trong vòng 5 năm trở lại đây là 239 tấn thóc; còn lại 1.300 triệu đồng thất thoát do quản lý trái quy định… và một loạt những hành vi sai phạm ở nhiều lĩnh vực, gây hậu quả nghiêm trọng, đang được tiếp tục làm rõ. Ông giám đốc Cty Trần Nhuận và một vài đối tượng khác cứ mấy hôm một lần cùng nhau lên “thưa chuyện” với cơ quan điều tra, không còn tâm trí nào để điều hành Cty nữa. 400ha cà phê Catimo - loại cây được tổ chức gieo trồng, chế biến và tiêu thụ chính cùng ngô, lúa, mía và bông… mà Cty kinh doanh đang vào thì chín rộ. Cty xem ra đã xuôi tay với một hợp đồng (miệng, còn ém chiến lược trên bàn lãnh đạo) lập lờ cốt chỉ để người trồng cà phê không thể nào bán được sản phẩm cho… mình(!)