27 tháng 2, 2013

SÓNG DẬY ĐÀ GIANG

        Từ trên đỉnh Ngụy Sơn (Vân Nam -Trung Quốc), vượt qua Nậm Te (Mường Tè - Lai Châu), con sông Đà trườn mình giữa hai dãy tân kiến tạo đá vôi Phan Xi Păng và Pu Đen Đinh, để rồi lao cắm xuống, bỏ lại sau lưng hàng chục thác nghềnh sôi sùng sục, kéo dài mãi cái hùng vĩ xuống tận Trung Hà ; nơi hợp lưu với sông Thao (sông Hồng) tạo nên một ngã ba kinh tế nổi cực kỳ sầm uất và tấp nập…

         
***
Chỉ với ba con sông chính là sông Đà, sông Thao và sông Lô - Gâm mà làm nên một hệ thống sông ngòi dài tới nhiều ngàn km, để rồi từ đó hình thành nên 15.000 km2 đồng bằng châu thổ Bắc bộ, lớn thứ 2 sau đồng bằng sông Cửu Long và cùng với hệ thống sông ngòi cực Nam này thu hút đến 1/2 dân số cả nước. Riêng con sông “anh cả” hung dữ và thất nết nhất (nhưng cũng thơ mộng nhất, vì như lời những thiếu nữ tuổi 17 của đỉnh Pu Đinh thì “trong nước sông có nước mắt và lá thư của tình yêu”)  của 3 nhánh sông Hồng là Đà giang hàng năm lặng lẽ cung cấp cho đồng bằng Bắc bộ đến gần 50% lưu lượng nước, đóng góp vào 839 tỷ m3 và 200 triệu tấn phù xa mỗi năm của toàn bộ hệ thống sông ngòi Việt Nam. Tuy nhiên, để “cưỡi đầu” được con “thủy long” ngạo mạn và tráng sĩ ấy, từ xưa đến nay nhân dân ta đã phải đắp cho hệ thống sông Hồng trên 2.700 km đê, bắt cả mạng lưới sông ngòi này “chảy trên không trung”, cao tới 7 m so với mặt… ruộng. Hơn nữa, chính nhờ tấm lưới sông, suối dày đặc mà đã quyết định phần nào vào sự hình thành hai mùa khí hậu rõ rệt, phù hợp với hai mùa gió là gió mùa đông bắc khô lạnh và gió mùa tây nam nóng ẩm đã mang lại ít nhất mỗi năm 2000 mm nước mưa ; cùng với số ngày nắng đạt tới 3000 giờ/năm, đưa nhiệt độ trung bình lên trên ngưỡng 210C, vừa góp phần làm nên một cường quốc nông nghiệp, vừa cấu thành chất tạng con người Việt Nam máu đỏ da vàng với lòng tự tôn và yêu mếm dân tộc cao độ.
            Tuy nhiên, người ta biết về Đà giang không chỉ có vậy. Hằng năm, từ tháng 6 đến tháng 10, con sông “lãng mạn” này đã gây cho người dân sống hai bên lưu vực thật nhiều phiền toái. Mùa mưa, nó có thể đem về 80 % lượng nước cả năm thì mùa hạn cũng có thể lấy đi 3/4  lượng nước cần đủ để sinh hoạt và phát triển kinh tế nông nghiệp. Lại thêm khí hậu tiểu vùng thất thường, mưa nhiều, nắng lắm đã khiến cho hàng ngàn mét đê và hàng vạn héc ta đất màu mùa nước về thì thối đến tận củ, mà mùa khô đến thì nẻ đến kỳ cùng. Chính vì lẽ đó mà bắt đầu từ năm 1956, sau khi Nhà nước khảo sát hệ thống sông ngòi cả nước, đã đồng thời thành lập Văn phòng ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng. Đến năm 1973, khi mà điều kiện đất nước nhiều phần thuận lợi, Nhà nước bắt đầu nghiêm túc nghiên cứu và xem xét lại quy hoạch tổng thể hệ thống sông Hồng, để đến năm 1975 có báo cáo thuyết minh tổng quan sông Đà và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cùng với thiết kế kỹ thuật thủy điện Hòa Bình và thủy điện Tạ Bú (nay là thủy điện Sơn La).
            Do sông Đà bắt nguồn từ dãy núi cao nên có lưu vực rất lớn, lòng sông lại dốc, lắm thác nhiều nghềnh đã ngẫu nhiên tạo nên tiềm năng thủy điện, chiếm tới hơn 37 % trữ năng sông ngòi cả nước. Suốt dọc chiều dài 542 km chảy trong lãnh thổ sông Đà  mang trên mình đến 5 thủy điện, gồm : Thủy điện Hòa Bình, thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu và 2 thủy điện trên nhánh sông Nậm Mu là thủy điện Bản Chát và thủy điện Huội Quảng ; trong đó thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam á tính đến thời điểm hiện tại. Ngay từ những ngày đầu khảo sát, tiềm năng của con sông Đà đã gợi mở ra biết bao triển vọng. Không riêng gì điện nước với “kỷ lục” 5 thủy điện lớn nhỏ, con sông trước đã là “con đường” thông thương đến tận ngóc ngách các bản làng Tây Bắc, thì hôm nay, một lần nữa người ta lại nhìn thấy tầm vóc phương phi của nó  khi chỉ với thủy điện Sơn La, ngoài nhiệm vụ chính là cung cấp điện năng để phát triển KT – XH vì sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ; nó còn góp phần phân phối lũ về mùa mưa (thủy điện Sơn La nâng tần suất chống lũ từ 125 năm lên 500 năm), cấp nước về mùa kiệt hết sức “thuần dưỡng” cho vùng “á” đồng bằng châu thổ với trên 20 triệu dân và hàng trăm ngàn ha ruộng cả lúa lẫn hoa màu ; tạo đà thúc đẩy phát triển KT – XH vùng Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng – khi mà tỉnh miền núi này còn nghèo khó nhất nước với chỉ số GDP bình quân 2005 mới chỉ đạt xấp xỉ 4,2 triệu VNĐ/người.
            Hình ảnh con sông hôm nay, khi chúng tôi có dịp ngược từ Tà Hộc (huyện Mai Sơn – Sơn La) bằng thuyền đuôi tôm, đến cảng tổng hợp Mường La, rồi “xe ôm” về Pá Vinh II, thuộc xã ít Ong - Mường La (nơi sẽ là đập thủy điện Sơn La), Đà giang đã tạm thời đổi dòng để nhường lòng sông cho công trường xây dựng ; nhưng bên tai tôi hình như vẫn nghe xa xăm tiếng khắp noọng xao, tiếng kèn lá gọi bạn trầm bè trong điệp trùng khói sóng của những buổi chiều trên khoảnh nương tả ngạn, hay trong những hôm họp chợ phiên chỉ thấy một rừng hoa áo và hoa váy. Vào những đêm trăng sáng, từng cặp dong nhau trên chiếc thuyền gỗ mảng, gieo vào trong gió câu hát tỏ tình, vào ngọn sóng lời yêu tha thiết và tạc vào nghềnh đá những miếng ngải, mê tơi “đến tận tuổi chiều” vẫn còn gắm chặt vào 12 bậc cầu thang dốc như con dốc ngoài đầu bản. Việc con sông tham gia vào an ninh kinh tế quốc gia là đại sự, chỉ biết nó đã từng gắn bó với bao nét văn hóa “núi cao suối sâu”, bao phong tục được hình hài theo nét “bán sơn bán thủy”; mà tới đây, khi thủy điện sông Đà phát sáng, nét văn hóa ấy sẽ thăng hoa theo nhịp đập kinh tế thị trường năng động kiểu “cập cảng”, đến đâu cũng không biết nữa.

***

            Bắt đầu phôi thai ý tưởng từ năm 75, xong phải tới Quốc hội khóa X “Chủ trương đầu tư Dự án nhà máy thủy điện Sơn La” mới được đưa vào Nghị quyết, rồi Quốc hội khóa XI với “Phương án xây dựng thủy điện Sơn La” và Quyết định số 92/QĐTTg ngày 15.1.2004 của Thủ tướng Chính phủ ; thủy điện Sơn La đã chính thức được xây dựng sau 32 năm cho công tác khảo sát thiết kế. Không như dự kiến ban đầu với phướng án xây dựng Sơn La cao (260 – 265 m ; tương ứng với 3.000 – 3.600 MW), thủy điện Sơn La được PECC1 (Công ty tư vấn xây dựng điện 1) trình kiến rút xuống quy mô thấp, mặc dù sản lượng điện năng ít hơn, công tác di dân tái định cư (DDTĐC) khó khăn hơn nhưng giữ được thị trấn Mường La (Sơn La) và thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay của tỉnh Điện Biên) ; hơn thế nữa là thời gian thi công ngắn – khoảng 7 năm kể từ khi khởi công – sẽ sớm đưa “hồ treo” 9,26 tỷ m3 nước này vào khai thác để tăng khả năng điều tiết nước và tăng công suất cho thủy điện Hòa Bình tới hơn 200 MW nữa. ấy là chưa kể, theo hoạch định của các nhà kinh tế là: nếu phát điện sớm, mỗi năm nhà máy có thêm 10,2 tỷ KWh điện, đồng nghĩa với việc tiết kiệm cho ngân sách quốc gia 500 triệu USD tiền lãi, 5 triệu tấn than và gần 270 tỷ đồng từ lợi ích cấp nước và cắt lũ – số tiền đủ để giúp hàng vạn hộ dân thoát nghèo trong nháy mắt ! Và dĩ nhiên điều mà ai làm kinh doanh cũng phải quan tâm, đó là dự kiến thủy điện Sơn La đi vào hoạt động khoảng 11 năm sẽ thu hồi toàn bộ 36.933 tỷ đồng đầu tư xây dựng. Quy mô xây dựng thủy điện Sơn La thấp như phân tích của PECC1, tức là nằm ở độ cao 215 m, thấp hơn Sơn La cao 45 – 50 m, với diện tích lưu vực là 43.760 km2, diện tích hồ chứa 224 km2, tổng công suất 2.400 MW của cả 6 tổ máy với số vốn đầu tư là 36.933 tỷ VNĐ ; trong đó vốn cho dự án xây dựng công trình do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư là 25.624,85 tỷ đồng, vốn cho Dự án tái định cư do UBND các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu làm chủ đầu tư là 10.294,915 tỷ đồng, vốn cho Dự án các công trình giao thông tránh ngập do Bộ Giao thông vận tải làm chủ đầu tư là 1.013,24 tỷ đồng mà Tổng thầu là Tổng công ty (TCT) Sông Đà và 12 TCT khác tham gia thầu, xây dựng. Để chuẩn bị “tổng mặt bằng” cho thủy điện Sơn La, Dự án đã phải di chuyển 6 vạn hộ dân của 160 bản, thuộc 17 xã của 3 tỉnh đến nơi ở mới, với tổng  quy hoạch gồm 218 điểm ; 82 khu thuộc 83 xã ; 10 vùng thuộc 10 huyện, thị xã của 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu ; đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 196. Riêng huyện Mường La – huyện của thủy điện, theo trưởng Ban tuyên giáo huyện ủy Nguyễn Kim Thanh thì có khoảng 3000 hộ với 15.000 nhân khẩu của 45 bản, 5 xã vừa phải di vén nội xã vừa di chuyển nội tỉnh để tránh ngập trên diện tích 3.000 ha ; mà tính đến nay, cả 2 đợt Ban quản lý dự án di dân huyện đã di chuyển được 830 hộ, còn lại khoảng 2.000 hộ nữa tiếp tục được động viên đến nơi ở mới trong thời gian tới.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên có một công trình thủy điện lớn  cấp  Đông  Nam á do chính con người Việt Nam thiết kế và xây dựng dựa trên tiêu chuẩn quốc gia (TCXVN 335 : 2005 được xây dựng trên hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam – Liên Xô và của Mỹ, do Bộ Xây dựng ban hành và TCXD 250 :2001 – có quy định tính toán và kiểm tra ổn định công trình ở động đất cấp 9) và tiêu chuẩn quốc tế với công nghệ bê tông đầm lăn (RCC) của Mỹ. Cũng là lần đầu tiên Việt Nam hoàn toàn làm chủ công nghệ khi chỉ có duy nhất 2 đơn vị nước ngoài làm nhiệm vụ tư vấn phụ là Viện thiết kế thủy nông Maxcơva của Nga và CT tư vấn Colenco của Thụy Sĩ ; không như khi xây dựng thủy điện Hòa bình, cán bộ công nhân viên Việt Nam mới chỉ là những người học việc của các chuyên gia Liên Xô (cũ). Hơn nữa, thủy điện Sơn La là thủy điện đầu tiên ở Việt Nam lễ khởi công cũng đồng thời là lễ ngăn sông, như vậy có nghĩa là công trình thế kỷ này sẽ rút ngắn thời gian thi công xuống ít nhất 3 năm (dự kiến hoàn thành vào 2015 sẽ được rút lại 2012) . Như vậy chắc chắn 1.500 triệu USD với 15 triệu tấn than và 810 tỷ đồng tiền lãi do cấp nước và cắt lũ … đã được tiết kiệm thành công tính đến thời điểm này. Tuy nhiên, theo như lời Tổng giám đốc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam Đào Văn Hưng thì thời gian có thể còn được “thi đua” rút xuống ngắn nữa, chính vì lẽ đó mà Thủ tướng Phan Văn Khải, trong lễ khởi công và ngăn sông (2.12.2005) đã “hứa thưởng xứng đáng” nếu tổ máy số 1 phát điện sớm hơn ; tuy nhiên Thủ tướng cũng khẳng khái nhắc nhở 13 đơn vị thi công không được để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng tại công trình thủy điện Sơn La. Để rút ngắn được ba năm đã phải “tiêu thụ” hơn 1.000 ngày đêm của hơn 6.000 cán bộ công nhân viên thuộc 13 đơn vị với khối lượng đào đắp khổng lồ, lên tới gần 11 triệu m3 đất đá ; gần 5,4 triệu m3 bê tông được đổ, khoan phụt chống thấm và 63.459 tấn thiết bị công nghệ được lắp đặt. Giai đoạn trước khởi công, tính riêng TCT Sông Đà đã phát động và ký kết chiến dịch “thi đua 250 ngày đêm” đến từng cán bộ công nhân viên. Chiến dịch chia làm hai đợt : Đợt I từ 26.3 đến 31.8, TCT Sông Đà có cả thảy 54 tập thể và 131 cá nhân được các cấp tặng Bằng khen ; đợt II từ 2.9 đến 30.11, với kỷ lục định mức có khi “bị phá’ tới 200%, thì dự kiến trong lễ tổng kết diễn ra cuối tháng 12, cũng đồng thời là đợt phát động thi đua toàn TCT 2006, sẽ có 34 tập thể và 143 cá nhân nữa được nhận Bằng khen các cấp. Có những thời điểm hàng ngàn con người “chìm” trong “cuộc chiến” không cân sức với khối lượng công việc vô cùng nặng nhọc, mặc dù đã làm cả ngày lẫn đêm, làm không hết phải thi đua vượt khoán, “mở đợt cao điểm” đạt đến 200% tần xuất, ví như thời điểm đắp đê quai giai đoạn I, với 2.057 m3/tiến độ thi công trung bình 1000 m3/ngày… thế nhưng nhiều thời điểm phải nghỉ, chờ lãnh đạo đi liên hệ việc làm mới, hoặc làm tạm những công việc thuộc loại “dân công”, với mức thu chỉ còn 1/4 thường lệ… . Làm việc với anh Đào Minh Trương – Phó chủ tịch công đoàn, TCT sông Đà, được anh cho biết ngay sau ngày khởi công đã có hàng ngàn công nhân bê tông “thất nghiệp”. Trên công trường bây giờ, Sông Đà 9 và Nicôgi  đang gồng mình lên, làm tất cả những gì có thể để cuối quý II - 2006, tất cả các hạng mục xây lắp phải được vào trận thì XN Sông đà 5.6  phải đưa 300 công nhân ra đi tìm việc trên Tuyên Quang ; CT cổ phần 604 cũng gần 300 công nhân phải chuyển đi Thừa Thiên – Huế. Còn CT Sông Đà 7 thì tuần sau sẽ lần lượt đưa 203 công nhân và thợ hàn bậc cao đi vào Hà Tĩnh… 
Để dễ hình dung, anh Trịnh Trung Chính – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy CT Sông Đà 7, “thu nhỏ” toàn bộ Công trình thủy điện Sơn La lại còn… một ngôi nhà. Mười ba đơn vị thi công “chia nhau” từ đào móng, xây móng, xây tường, chát vữa, khung -- cửa sắt, mái, nội thất… . Khi anh đào móng có việc thì 12 người còn lại nằm chờ, anh đào móng xong rồi thì cắp áo ra đi vì chẳng còn công đoạn nào của ngôi nhà được thiết kế “đào” trên… nóc nhà cả ; tiến độ thi công phụ thuộc vào tính chất công việc từng giai đoạn, đòi hỏi tay nghề chuyên ngành, không làm thay được. Bài toán dễ biết kết quả nhưng lại vô cùng khó giải. Muốn giữ công nhân thì phải trả lương cao, muốn trả lương cao thì phải có việc làm, muốn có việc làm thì lại phải có công nhân tinh nhuệ (cần lúc nào có lúc ấy) vv và vv… vì hơn ai hết họ chính là “vàng ròng”, là nhân tố quết định sự sống còn của đơn vị. Không riêng gì nhận định chủ quan của chúng tôi mà ngay anh Trịnh Trung Chính cũng khẳng định : “Nó làm giảm rất nhiều sức mạnh của đơn vị” và “Việc này CT hoàn toàn phải tự lo nếu còn muốn tồn tại và phát triển”. Hiện Sông Đà 7 chỉ còn duy nhất một phần việc chính đó là nghiền, sàng (đá, cát dự trữ). Hàng ngàn tỷ đồng đầu tư cho máy móc như : Ô tô tự đổ, máy đào, xe tự trộn bê tông, cần trục, trạm trộn bê tông, trạm nghiền sàng, trạm nghiền cát nhân tạo, máy khoan … khi không có việc vẫn phải khấu hao, vẫn phải trả lãi ngân hàng, cùng với lương công nhân lên đến nhiều trăm triệu/tháng.. Sự thất nghiệp tạm thời những … 7 tháng có thể được gọi là “ém quân” cho khỏe, cho tinh để lao vào trận chiến mới, nếu giữ được họ. Chính vì thế mà họ liên tục có những con người cụ thể được điều đi tìm cái “không thất nghiệp” ở bất kỳ nơi đâu, khi vẫn còn hàng núi việc làm.

***
           
“Đi đâu tha con theo đấy”, thoạt nghe tưởng là phương ngữ của đồng bào Mông di cư xưa, nhưng khi về thủy điện Sơn La mới hay đó lại là “sự cố bắt buộc” của cán bộ công nhân viên (CBCNV) thủy điện. Điều kiện các nhà trường miền núi như ở huyện Mường La mặc dù còn rất hạn chế về cơ sở vật chất cũng như các phương tiện hỗ trợ học tập khác, tuy nhiên ít nhất cho tới hiện nay đã có 2 trường đó là THPT và THCS thị trấn được đầu tư nhà hiệu bộ, phòng học 2 tầng… nằm trong Dự án đầu tư của Chính phủ cho thủy điện Sơn La. Đúng ra, sẽ phải có ít nhất 3 ngôi trường được xây dựng trên công trường, nhưng do thiếu h/s, mà trong khu vực lại không có dân cư do các bản Nà kè, Hua Đon… đã phải di chuyển tránh ngập nên không thu hút được con em các vùng phụ cận, chính vì thế mà Dự án đã chuyển đổi đầu tư sang tu bổ và xây mới với hàng chục tỷ đồng cho 2 nhà trường nói trên. Theo anh Trương thì hiện tại công trường thành lập tạm thời một trường mầm non tư thục theo kiểu “cấp cứu khẩn cấp”, gồm 3 lớp với 45 cháu nhóm mẫu giáo (4 –5 tuổi), do giáo viên là người TCT chuyển từ I A Ly ra, mượn 5 gian tập thể của công nhân làm lớp học ; còn lại toàn bộ số cháu 1 tuổi trở xuống còn đang phải ở nhà với mẹ. Trả lời những thắc mắc liên quan đến đời sống cũng như chuyên môn của trường tư thục trên công trường, anh Phạm Quang Kỵ, cán bộ Ban điều hành Dự án thủy điện Sơn La, BCH Hội phụ huynh trường THCS Lê Quý Đôn đưa chúng tôi vào lớp mầm non của cô giáo Lê Thị Hải. Cô Hải vốn là giáo viên tốt nghiệp trường Trung cấp mẫu giáo Xuân Mai (Hòa Bình), chồng lái xe cho Công ty Sông Đà 10, cô làm giáo viên đã 22 năm, phục vụ xây dựng thủy điện Hòa Bình, rồi I A Ly ; sau này “do CT cổ phần hóa” nên trở thành giáo viên “dân lập” (hợp đồng). Lớp “5 tuổi” của cô Hải có 30 cháu, bình quân mỗi cháu đóng 150.000 đồng/tháng, khoản tiền trên chủ yếu được đưa vào tiền ăn (1 bữa) và trả lương giáo viên ; bởi bàn ghế, chăn màn, giường chiếu, bếp, ga, bát đũa… đã được CT trang bị, nên mức thu nhập đạt từ 1.200.000 – 1.500.000 đồng/cô/tháng. Tuy nhiện, kể từ khi Sơn La chính thức có quyết định công bố dịch cúm gia cầm H5N1 số 3655/QĐ - UBND ngày 16.11.2005 cũng đồng thời có “lệnh” của Ban điều hành Dự án thủy điện Sơn La cấm chăn nuôi, giết mổ, ăn thịt gia thủy cầm… thì thực phẩm trong khu vực công trường tăng lên ngùn ngụt. Những thứ các cháu có thể ăn được như thịt lợn tăng 7.000 đồng/kg ; cá cũng tăng 7.000 đồng ; thịt bò tăng gần 10.000 ; tôm tăng hơn 10.000 đồng/kg… đã khiến cho các cô giáo hết sức khó nấu ngon khi mà chế độ ăn của các cháu vẫn dậm chân tại chỗ.
Lòng vòng đến 5 ngày ở huyện Mường La. Chiếc xe lai vi vút phóng hết 90 km đường giao thông trong công trường, 30 km đường ngoài công trường được trải nhựa phẳng lỳ như đường cao tốc. Cả con đường liên huyện từ thị xã Sơn La vào cũng vậy, không như cách đây 3 năm, đá hộc to bằng chiếc xoong, lăn lóc, trọc lốc, cứ bò lên là lộn xuống, suốt 43 km đường trường, đúng là “hết Cao Pha ngã xuống vực”. Ngay tại công trường, nơi vốn chỉ có tiếng đá lở, tiếng mìn om, tiếng máy gầm, bụi bặm và sóng đánh… đã “bất ngờ” có tới 4 mạng điện thoại, gồm cả di động, phục vụ 24/24, rồi cảng tổng hợp Mường La tồn tại song song với 3 tuyến đường bộ Sơn La – Mường La, Hát lót – Mường Chùm – Na Co và tuyến đường nối từ cảng Tà Hộc với đường tuyến 2 ngã ba Nà Bó ; rồi tuyến xe khách Mường La – Hà Nội… tấp nập và hối hả. Riêng điện lưới quốc gia mà cách nay vài năm ở đây nghe lạ hoắc thì đến giữa năm 2005, đã đưa vào khai thác 2 nguồn là đường dây 110 KV Sơn La – Mường La và đường dây 220 KV Việt trì - Sơn La sáng choang khắp các nẻo đồi ven 2 bên đường – nơi trước đây từng là “rừng ma” ; khiến tôi có một cảm giác mình đang lạc vào một khu phố mới nào đó ở Hà Nội. Những thôn sơn duyên dáng trong chiếc khăn piêu, vai đeo ếp, tay bện lanh, sắm gối lội tòm tọp trên con đường huyện nhăn nhở đá và lõm bõm bùn được “hóa” thành những cô gái moden, phóng xe máy tung bay tóc uốn. Những mái nhà sàn có quản nhìn băng lên núi, đêm nghe con nai, con hoãng tác “dự báo thời tiết” nay là những “siêu” gác, “siêu’ lầu với những dòng rôn hết sức hấp dẫn : “Sơn tửu quán” và “Thư giãn quán”… khách đông nghìn nghịt. Xa xa, tiếng sóng sông Đà dậy lên từng nhịp như nhắn nhủ trong sự thay đổi vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc hãy biết giữ những gì thuộc về bản sắc, về văn hóa chuyền thống và thuộc về dòng sông, như món đặc sản “rêu khô Tạ Bú” hay “Pa Păm” Nậm Pia… giống  như dòng nước lãng mạn dù có phải đổi dòng, dù ngăn đập vẫn không quên mang theo vào trong nghềnh đá những miếng ngải tình yêu, khiến người ta mê nhau đến tận khi thành trưởng bản vẫn còn gắm chặt vào 12 bậc cầu thang dốc như núi đá./

Mường La,2.12.2005

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét