Dải
sương sớm phủ một lớp dày trên những bờ vai áo chàm vạm vỡ, ngày một xuất hiện
nhiều trên các ngả đường dẫn về từ ba vùng của Mường Ảng (Điện Biên). Anh nông
dân người Mông Lý A Lệnh (Bản Nậm Chan 2 - xã Mường Đăng) quẳng cái xe máy hãng
Hon Đa mới cóng vào sân UBND huyện, nói một câu như để lưu lại chút khí chất
cao như rặng núi Pơ Mu vào trong trí nhớ của những người vùng thấp: “Ra thị
trấn nhiều như đi chợ, nhưng không lần nào thấy tim mình khó bảo như hôm nay.
Bà xã ngồi sau cứ hỏi, mười lăm năm nay dù làm ăn được 100 triệu vẫn không thấy
ông vui, sao hôm nay cười mãi, như là bị “ma làm” ấy?”
Lý A Lệnh và đàn bò "rừng"
Ai
cũng nghĩ anh Lệnh là đại biểu Đại hội các dân tộc thiểu số huyện Mường Ảng
chính thức, anh bảo: “Không tuyệt vời thế đâu. Nhưng tôi có người anh em là đại
biểu chính cống, nó cho đi theo làm “đại biểu nghe lỏm” bên ngoài. Đại hội to
thế này, nhiều cái hay lắm đấy”. Cái
anh chàng nói năng giảo hoạt như một nhà truyền bá ấy, sau này tôi mới biết hết
sự độc đáo ở anh. Anh bảo còn thiếu 3 con lợn rừng nữa là anh săn được một trăm
con, còn gấu thì gần năm mươi con gì đó... Anh đố tôi biết vì sao anh từ bỏ cái
nghề săn bắn vừa thú vị, vừa có thịt cho vợ ăn, con ăn không phải mất tiền, vừa
là làm giàu ấy… để chân chất hạt bột làm kinh tế “NC” - tức là nương, chuồng… ở
mãi thâm sơn cùng cốc? Tôi chịu, chẳng đọc được mảy may suy nghĩ nào trên khuôn
mặt dạn dày sương gió như thớ pơ mu - loài gỗ quí nơi anh sinh sống.
Đại
hội thu hút hơn hai trăm đại biểu, đại diện cho gần ba chín nghìn người của cả
thảy mười dân tộc anh em trong huyện vừa mới bắt đầu, Lý A Lệnh đã chạy ra
khoe: “Tôi thích nhất câu nói: “... sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau”. Ai
mà nói toàn đúng, toàn hay thế nhỉ?” Tôi bảo Bác Hồ dạy đấy. Bác bảo đã là công
dân Việt Nam
thì thành anh em hết, một nhà mà. Lý A Lệnh vỗ tay: “Bác Hồ vẫn là người nói
đúng, nói hay nhất!”. Nói rồi anh lôi tôi ra chái hội trường, thổ lộ một điều
mà anh cho là bí mật nhất cuộc đời anh và cũng “xấu hổ” nhất cuộc đời anh, đó
là bây giờ anh mới biết Nhà nước, tỉnh, huyện đầu tư, quan tâm người dân tộc
thiểu số nhiều thế, không giống như bọn Vàng Chứ tuyên truyền: “Chính phủ Việt
Nam “nuôi” người Mông để người Mông làm giàu cho Việt Nam lúc hòa bình và làm
lá chắn sống cho Việt Nam khi có chiến tranh. Bọn ma quỷ này, cái mồm ác như
con rắn độc”. Thế rồi A Lệnh lẩm nhẩm tính toán theo những cứ liệu trên bản Báo
cáo của Đại hội (mà ông tướng này giỏi thật, loạng qoạng thế nào lại kiếm được
bản báo cáo trước cả phóng viên báo chí. Anh cười khoe, là do một người anh em
là Chánh, phó Văn phòng UBND huyện gì đó cho để nghiên cứu):
Toàn
huyện, trừ thị trấn Mường Ảng ra, còn lại 9 xã với 103 bản người dân tộc thiểu
số, tỉ lệ đói nghèo chiếm đến gần 60%, Nhà nước còn đang phải lo cho từ Dự án
hỗ trợ sản xuất gồm 5 loại thiết bị máy móc nông nghiệp, ngót bốn chục công
trình giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, trạm y tế, trường học... hỗ trợ nhà
ở cho hơn hai ngàn bốn trăm hộ dân nghèo. Còn nữa, Chương trình phát triển kinh
tế xã hội vùng cao (hai mươi bản) với mười sáu công trình giao thông; nền nhà,
cống rãnh thoát nước với tổng kinh phí xấp xỉ ba mươi chín tỉ đồng. Không có
Nhà nước, Vàng Chứ có làm được cho chín trên chín xã có đường ôtô đến tận trung
tâm, trong đó năm xã đi lại ổn định cả hai mùa mưa - nắng không? Nghe nói,
trong tương lai gần huyện sẽ mở đường nhựa tất cả các tuyến vùng sâu vùng xa
còn đang vô cùng nghèo khó nữa: Búng Lao - Mường Bám; Búng Lao - Mường Lạn; Km
30 QL279 - Ngối Cáy; Km 30 QL279 - Nặm Lịch; đường thị trấn - ẳng Nưa và Km 51
QL279 - Mường Đăng; rồi kè suối Nậm Cô - Búng Lao; thủy lợi Mường Lạn; hồ thủy
lợi ẳng Cang với số tiền khổng lồ là năm trăm năm tám phảy bảy tỉ đồng...
Lý
A Lệnh rưng rưng nước mắt: “Xin cảm ơn Đảng - Chính phủ, cảm ơn Nhà nước! Ngày
tháng cũ, tôi cứ tưởng lời nói của Đảng - Chính phủ, lời nói của Nhà nước trên
ti vi, trên đài, trên báo chỉ như cơn gió chợt đến, chợt đi của đỉnh Pơ Mu; bây
giờ chính lỗ tai mình nghe những người làm ăn giỏi như Lò Văn Tưởng (xã ẳng
Tở), Lầu Trống Lử, Lò Văn Phanh, Lý Giống Khá (xã ẳng Nưa)... nói mới biết mình
nghĩ sai nhiều, nhìn sai nhiều, nói sai nhiều. Từ hôm nay, mình phải sửa chữa
lại cái nghĩ, cái nhìn, cái nói về Đảng - Chính phủ, về Nhà nước...”. Một người
bạn của Lý A Lệnh là Lý A Của - đại biểu HĐND xã Ẳng Tở khẳng định như thể
chính anh là nhà xã hội học vậy: “Ngày xưa cán bộ người dân tộc, theo trẻ con
đi học biết chữ về nói, thì ít... “như lá mùa thu”, bây giờ Nhà nước dạy chữ
cho, dạy trình độ chuyên môn cho rồi cử làm cán bộ nhiều lắm. Đếm sơ sơ cũng có
88% (211/239) đại biểu HĐND huyện, 61% đảng viên (581/729); ấy là chưa kể đến
228 cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số được huyện cử đi học từ năm 2007 đến
nay nữa...”. Anh Lý A Cá, nguyên trưởng bản Thồ Lộ (xã Ẳng Tở) hỏi vu vơ vào
nhóm người “ăn cơm ngô bàn chuyện chính trị”: “Thế là không có việc phân biệt,
coi thường người dân tộc thiểu số như bọn Vàng Chứ nói, đúng không?”. Lý A Của
làm một câu rặt Kinh: “Nhìn thì biết, khổ lắm hỏi mãi. Im để nghe đại biểu làm
ăn giỏi đọc tham luận!”
Trong
hội trường, các vị đại biểu sôi nổi thảo luận về Chương trình thực hiện các
chính sách dân tộc; Công tác xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số; Phát triển kinh tế xã hội - an ninh quốc phòng; Đánh
giá công lao của đồng bào các dân tộc thiểu số trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc... nhưng tôi vẫn quay lại với vị “đại biểu nghe lỏm” của mình. Lý A
Lệnh như người vớ được vàng, cứ xuýt xoa mãi cho cái thành tích mình “được dự”
Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện. Chốc chốc anh lại bật điện thoại
di động gọi cho “bà xã”, cho cậu con trai đang làm “trại trưởng” trại chăn nuôi
trên đỉnh Thẩm Hái, và cậu con đang theo học trường THCS xã. Nội dung trao đổi
không dài, chỉ vẻn vẹn: “Cố lên! Nhà mình làm đúng đường lối Chính phủ rồi. Cụ
thể thế nào chờ… đại biểu về sẽ biết!”
Đại
hội đại biểu các dân tộc huyện Mường Ảng diễn ra được mấy hôm, tôi quyết định
liên lạc với Lý A Lệnh để về Nậm Chan 2, về trang trại trên đỉnh núi Thẩm Hái
cao chất ngất lưng tầng trời; mặc dù chưa đi đã bị dọa: “Thằng em mày buộc dẻ
vào đầu gối trước đi!”. Tôi tự chấn an: “Không sợ! Anh đi được thì tôi cũng đến
được!” Trên con đường đất từ trung tâm xã Mường Đăng lên bản Nậm Chan 2, đèo
dốc đang hừng hực thì lại bị một con suối bẻ gẫy làm đôi, khiến chiếc xe Win
110 dã chiến phải ằng ặc chết máy. ấy vậy mà, dọc suốt chặng đường hơn 20 km,
chúng tôi gặp hàng chục xe tải hiệu Longcin hai cầu chở gạch, cát, xi măng...
lên đổ vào tận sân từng nhà người dân tộc Mông. May mắn gặp được anh giám đốc
Công ty TNHH Hải An - chủ thầu xây dựng đóng trụ sở tại thị trấn Mường ảng -
anh cho biết vật liệu trên được dùng để làm nền nhà cho nhân dân theo Chương trình
30a của Chính phủ (Nghị quyết số 30a/2008NQ-CP). Cũng vào mùa này năm ngoái,
Nậm Chan 2 rét lắm, trâu, bò, dê, ngựa, lợn... chết như bị dịch. Người nhiều
khi còn đóng băng trong nhà. Các cụ già, trẻ nhỏ từ sáng tới tối, từ tối tới
khuya cứ như bị ai đó trói vào đống lửa cháy rừng rực giữa nhà. Cây khô trên
núi mọi năm bỏ mục, nhưng năm ngoái rơi vào tình trạng cạn kiệt vì phải làm
nhiệm vụ chống rét. Năm nay có Chương trình 30a người, vật không sợ lạnh, rừng
cũng yên tâm tích nhựa ngủ đông để chờ xuân về là bung những lộc non ra, vươn
lên trên nền trời phủ đầy nắng mới. “Vị đại biểu nghe lỏm” cho biết thêm, không
chỉ có chương trình “đầu tư nhanh” ấy bà con mới ấm, mới khỏe, mà nhờ sự quan
tâm thường xuyên, có chiều sâu của lãnh đạo Nhà nước nên 112/114 bản đã có nhân
viên y tế, vì thế mà về mùa đông, bà con vùng cao không còn sợ “thần viêm phổi”
như ngày xưa nữa.
Đúng
như lời anh Lệnh, con đường từ bản Nậm Chan 2 dẫn lên đỉnh Thẩm Hái (thuộc rặng
Pơ Mu) vừa cao vừa xa như thể đường lên trời vậy. Anh Lệnh bảo có một cách đi
bộ gần hơn, đó là đi hai mươi lăm phút xe máy theo đường đi nương, rồi quẳng xe
giữa rừng, đi bộ thêm một tiếng rưỡi nữa. Anh Lệnh tính: “Đỡ được hơn hai giờ
so với con đường… chân!”. Thấy tôi ngần ngừ, anh bảo cái bụng người Mông tốt
lắm, ăn ngô ăn sắn từ tay mình mà ra chứ không ăn xăng, ăn sắt của người khác
đâu. Tôi yên tâm lẽo đẽo theo đít anh. Hai bên mái núi, cơ bản lâm tặc đã hoàn
thành xuất sắc “sự nghiệp” của mình. Vừa đi anh Lệnh vừa kể: Chỉ độ 10 năm
trước, rừng lợp bóng xuống tận bản. Giá lạnh dừng lại bên kia Mường Mùn (huyện
Tuần Giáo), Mườn Mơn (huyện Điện Biên). Gia súc gia cầm không bao giờ chết trừ
khi bị giết. Thú rừng về vườn kiếm ăn, kết giao bạn tình với vật nhà. Lúa, ngô,
sắn trồng hàng chục năm vẫn tốt vì màu trên đỉnh núi được nước dịu dàng đưa về,
vừa tới nương rẫy người Mông thì dừng lại như một sự chăm bón. Bây giờ lũ mang
cả củ sắn, gốc cây, tảng đá... về tận đồng bằng, tận Hà Nội. Hồi còn huyện cũ
(1/4/2007, huyện Tuần Giáo - Điện Biên chính thức được chia tách thành hai
huyện Tuần Giáo và Mường Ảng), cán bộ ở xa, Nhà nước ở xa nên rừng bị phá nhiều
lắm. Nay, Nhà nước về gần, cán bộ về gần, hơn nữa người Mông, người Thái, người
Khơ Mú... thấy được tầm quan trọng của rừng nên thực hiện nghiêm túc “Lệnh cấm
chặt phá” để cho đất lại tốt, con thú, con gia súc lại được khỏe mạnh, bình
yên.
Trang
lâm của anh Lệnh nằm đơn độc giữa một mảnh rừng thưa, nhưng ngay phía sau là cả
một vùng rừng gỗ quí rộng như thể chưa có người nào xuyên thủng được. Theo anh
Lệnh thì chính đường đất, núi non là nhân tố chính ngăn chở bàn chân con người.
Những cây pơ mu vài người ôm vẫn sừng sững bóc những tờ lịch thiên nhiên kỳ vĩ.
Thú thực là khi vào được tới đây, tha cái thân không ra còn khó nữa là tha gỗ.
Như chứng minh cho giá trị xuất hiện của mình tại một Đại hội cấp huyện, anh
Lệnh bắc loa tay lên núi, đàn bò hơn 59 con cả trâu, bò, ngựa; mấy chục con dê,
103 con lợn và hàng trăm con gà… sầm sập chạy về vây kín trước sân. Tất cả đều…
hoang dã. Lương thực thì chẳng bao giờ phải lo, mỗi năm nhà anh làm hai nương
ngô, ba nương lúa và bốn nương sắn. Mỗi năm thu về một trăm bảy mươi bao thóc
(khoảng 5 tấn), chín mươi bao ngô (3 tấn); còn sắn thì bước vào tuổi thứ tư bắt
đầu thu hoạch. Mỗi năm ăn một nương và lại trồng một nương. Củ sắn nhà anh Lệnh
dựng vắt từ dưới đất lên tận mái gianh khiến chúng tôi tưởng nhầm là cây gỗ.
Anh Lệnh bảo, năm ngoái mất mùa, gần như cả xã kéo đến xin sắn nhà anh mà không
xuể. Anh ước chừng ba, bốn trăm tấn gì đó.
Mùa
đông quây lũ trâu, bò, dê, lợn nhà anh lại thành từng đống, la liệt trong các
lùm cây bụi xung quanh trang trại. Chúng nằm thảnh thơi như những “đứa con
cưng”, sự nghiệp mà chúng cần phải phấn đấu chỉ là ăn và ngủ. Chỉ có hai con
ngựa là chẳng bao giờ được nghỉ. Anh Lệnh bảo, hai con ngựa ấy đang chống lại
thần giá rét. Mỗi ngày hai chuyến, chúng theo hai vợ chồng người con cả anh
Lệnh đi bộ gần 3 km vào “rừng sắn” nhà anh để thồ về cho gia súc ăn. Nhờ được
ăn sắn nên chẳng năm nào nhà anh Lệnh có trâu bò chết rét, chết bệnh; ngược lại
chúng béo mần cả về mùa sương muối đã ăn hết cỏ.
Bốn
năm về trước, đứng trước nạn đói hoành hành ba, bốn tháng mỗi năm, anh Lệnh
thuyết phục vợ “bỏ bản vào rừng”. Chị Vàng Thị Dúa (vợ anh Lệnh) dãy nảy lên
như kiến trên chảo rang: “Người ta rủ nhau ra thị trấn, thành phố để cho vợ con
được hưởng sung sướng, ông lại đày vợ con vào rừng?”. Nghe anh Lệnh trình bày
dự án “chăn nuôi không tốn kém”, nước rừng cho, thức ăn rừng cũng cho, đến cả
hàng rào xung quanh trang trại núi cũng làm hộ nốt. Chị Dúa nghi ngại khăn gói
theo chồng bỏ nhà vào hoang dã. Nhưng đấy là chuyện cũ rồi, bây giờ chị Dúa đã
bốn nhăm tuổi, có mấy cháu nội rồi và rất hay ốm sốt bất ngờ, nhưng chị vẫn
không muốn về bản. Chị bảo từ ngày vào rừng, chị chưa phải ăn ngô, ăn sắn lần
nào. Thịt thì chẳng cần đi chợ, muốn ăn cứ ra sau nhà “đặt bẫy”, “bẫy” những
con gia súc, gia cầm chính bàn tay chị hằng ngày chăm bẵm. Sau chầu rượu “khỏe
đàn ông” tự tay anh Lệnh chế, anh Lệnh bảo: “Tôi đã có cách làm ăn mới rồi”.
Tôi hỏi anh có tiết lộ được không, anh bảo không được, bao giờ có “quả” ăn đã.
Người Mông là thế, họ chỉ “khoe” những thứ đã làm được, đã có sẵn trong hai bàn
tay lam lũ mẫn đảm, chứ không nhìn gió nói mây.
Lại
tiếp tục cùng anh Lệnh và đàn gia súc đang độ sung lực - đại diện cho đàn gia
súc hơn một trăm ngàn con trâu bò, mười chín ngàn con lợn và một trăm bốn mươi
ngàn con gia cầm của toàn huyện - đi vòng khắp một ngày trời xung quanh trang
trại Thẩm Hái mới hết giá trị phấn đấu và đóng góp của đồng bào các dân tộc thiểu
số vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở một huyện nằm trong tốp 61
huyện nghèo nhất cả nước. Bên kia núi Hua Sát, tiếng khèn, tiếng sáo động cả
một góc rừng thồ lộ. Anh Lệnh bảo người Mông ở bản Nậm Cứm xã Ngối Cáy ăn tết
sớm. Hôm nay là hai chín tháng mười ta, sớm mai là mồng một tháng một. Người
Mông một số nơi lấy ngày mồng một tháng một làm ngày đầu tiên của một năm mới;
một số nơi khác lại lấy ngày mồng một tháng chạp mà ít theo người Kinh đón năm
mới từ ngày mồng một tháng giêng…
Từ
chối lời mời theo kênh của những người anh em, chúng tôi xuống núi vào một buổi
chiều sương giăng mờ mịt. Đằng sau, tiếng con trâu đực hai năm tuổi rống lên
ồng ộc, rồi đổ ập xuống gốc cây tiết trâu. Bản người Mông nào năm nay ăn tết
cũng to; chắc là bởi trâu bò không chết rét, nương rẫy không bị lũ xúc mất màu
do rừng ngày một được phủ rộng. Lẫn trong sương là màu nắng thổ cẩm, sáng lấp
lánh theo bước chân trong từng tiết hội đánh quay, ném pao, giã bánh, múa khèn,
và thi “bắt vợ”…
Mường Ảng, 15.12.2009

Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét