Mùa
xuân vẫn đang cặm cụi làm việc trên vách núi. Những chùm hoa ban nhõng nhẽo như
cô gái Thái đang yêu, khoe sự đẹp hết cỡ ra trước thiên nhiên, làm cho người ta
thèm muốn chết. Trên con đường chen chúc mây, núi, đá và vực; ông già mùa đông
gầy gộc buông tay khỏi những đoạn cành cong, vội vã chống gậy ra đi, mang theo
hơi hướng sương mù và những thớ biểu bì cằn cỗi. Còn ở lại là triệu triệu viên
ngọc bích, li ti như những giọt nước mưa, đang lớn phổng lên từng giờ trên điệp
trùng kẽ lá…
Nắng sớm như xui chiếc minkhơ không
việc gì phải ngại va chạm, cứ tỉnh bơ lao như lửa đốt về phía Xổng Tạo(*). Mặc cho bột đá, bột đất và mùn thực
vật hất lên tận gáy, anh cán bộ tham mưu Ban chỉ huy quân sự huyện Mai Sơn vẫn
giục giã tay ga. Kia rồi! Những mỏm núi tai mèo và cả trảng rừng cọp đói, hình
như còn đâu đó dáng dấp các cuông
nhốc (nông dân tự do), côn hươn (gia nô)…người Sinh Mun đang bị
tước mất quyền công dân, sống chuyền kiếp tôi đòi ở nhà chúa đất, tảo tần bới
nhặt sự sống trong khe đá: “Chỗ này là nơi các anh hùng lục lâm Cầm Liên, Hoàng Nó, Việt Dũng, Vũ Lâm…
“đại bản doanh” để dân vận liên xã, tiến tới hình thành hệ thống lũng lán bí
mật; sau đó biến Phiêng Pằn (Mai Sơn) thành căn cứ của ủy ban kháng chiến Mai
Thuận” (tức Thuận Châu và Mai Sơn sát nhập). Vâng! các vị lục lâm hảo hán ấy, nhờ được gối đầu
lên sự kiên dũng nước Việt, gác chân vững trãi bên biên viễn triệu voi; ăn củ
mài Nam, uống nước lã Lào … mà đã có những người sau này trưởng thành và xuất
sắc ở cương vị lãnh đạo tỉnh, huyện. Còn những thổ công trung tiết Lò Văn So, Lường Văn
Phương, Vì Văn Chung, Vì Văn Ló… một thời khiến giặc Pháp sợ như sợ cọp đen,
báo xám cũng đàng hoàng ở ngôi Thành
hoàng bản của chủ nghĩa cách
mạng yêu nước, cho đến tận hôm nay và còn mãi mai sau. “Đi nữa, tới bốt Nà
Hiên!” Trung tá Nguyễn Đức Dũng, hay còn gọi là “Dũngtham mưu” vốc một
nắm đất, kính cẩn lên ngang mặt: “ở đâycó máu của trung úy, anh hùng liệt sĩ Lò
Văn Hắc, võ trang viên đội Võ trang Trung Dũng. Trước khi ngã xuống ông còn kịp
cùng đồng đội tham gia liền ba trận đánh, chiếm bốt Pom Lay, bốt Nậm ún và bốt
Nà Hiên. Cụ lão tiền ấy là tài sản của cả huyện Mường Mụa đấy” (tên cũ của Mai
Sơn trước thế kỷ XV).
Có trực tiếp lang thang trong
rừng mới biết cảnh chiều về núi. Những đàn chim xanh bay xoắn lấy nhau, vừa
đuổi theo bóng tối đang úp xuống lòng thung lặng lẽ, vừa lo phải lạc nhau cả
một đêm dài chỉ có gió, mây và những cú giật mình thon thót. Ngồi bên bếp củi
trong túp lán nương của cô gái Mông, mặt nóng vì lửa, lưng lạnh vì sương, theo
dõi cô cùng gia đình đấu tranh với cái nghèo mới hiểu thấu cảnh “thôn nữ say
ngô tối” của Nhà thơ, chủ tịch Hồ Chí Minh. Đêm bị thức trắng bởi tiếng lợn rên
rầu rĩ trong gầm lán, và rả rích cú kêu trên những lùm cây xa. Sáng chưa tỏ
đất, ông Sấu – bố cô gái Mông - đã leo tót lên nóc lều, tay huơ về hướng Đông
vẽ một con đường treo trên không khí, loằng ngoằng dễ có đến ba chục km: “Đó là
Chiềng Lương. Đi nửa ngày nhưng nếu thụt hố mài thì một ngày”. Quả vậy. Tùm tũm
trên hai mái đồi dọc tất cả các thung lũng, hố mài nhiều như lỗ tra thóc. Kết
quả của ngót trăm năm nếm mật nằm gai ấy vốn đã được dân chăn bò cộng với sự
chuyển dịch tự nhiên san lấp đi nhiều, nhưng vẫn còn hàng vạn chiếc bẫy cần
phải có “giao liên” mới qua nổi. Rừng
quả là lắm tài nguyên nhưng cũng nhiều huyền bí. Giờ này các bạn tôi có lẽ đang
thưởng thức những phút thanh bình đầu xuân nơi phố thị. Còn tôi ngồi nhai bông
mắc ka, uống nước lã đốt - đặc sản của chủ tịch Mặt trận tổ quốc Phiêng Pằn
Sồng A Chống – và mơ trở thành một võ tướng chân đạp bể núi, miệng quát lở rừng
của vua Lê Cảnh Hưng; hay một du kích quân quả dũng có tốc độ khinh công nhanh
như một viên đạn súng kíp, khiến con hổ cũng phải ngợp, của chủ soái Cầm Vĩnh
Tri thời kỳ tiền chống Pháp… . Thật là một thiệt thòi lớn nếu như biết viết mà
không biết đến Phiêng Pằn. Nhớ buổi đầu đặt vấn đề cho bài ký với Trung tá Dũng
- quyền tham mưu trưởng
huyện đội Mai Sơn – ở sở chỉ huy. Anh “dọa” ngay: “Không đi bộ nổi 6km/giờ
suốt ba ngày ròng rã, ăn lá vả, uống nước giang… thì tốt nhất là ở nhà nghiên
cứu báo cáo”. Vốn là người anh, lại đã từng cùng một đơn vị hồi còn ở Điện
Biên, tôi hiểu tính tình anh, nhưng không nghĩ anh lại tinh và có giác quan báo
chí đến thế. Hôm nay vào đây tôi mới thấy “con mắt quân báo” và “sự suy nghĩ
chiến lược” hết sức phong phú “về mặt phương án” của một cán bộ tham mưu quân
đội. Rất ít nói, dường như không phải cân nhắc gì khi cung cấp tư liệu, nhưng
anh vốn không thích nói nhiều. Có lẽ anh muốn chúng tôi khách quan tìm hiểu, để
viết đúng, và bơn bớt “màu” đi…
Luôn phải đi nước kiệu như một con ngựa
núi, chúng tôi vòng vèo trên những con đường chênh vênh ven biên giới Việt –
Lào vùng Xổng Tạo, cố gắng
làm sao giống phiên bản một cán bộ địch vận thời kháng chiến, để cuối cùng đỉnh
Pú Luông cao lừng lững cũng hiện ra trước mặt. Nơi đây vào những ngày cuối năm
1951, đã che giấu Huyện ủy, UB kháng chiến Mai Thuận sau khi bị quan, quân đội
Pháp đánh úp vào cơ sở cách mạng đầu tiên và duy nhất của huyện ở Bản ỏ. Cùng
lúc đội du kích Dong – Nơi cũng liên tiếp bị khủng bố. Nhân dân nhiều bản,
nhiều nhà bị chúng càn quét, đốt phá và giết chóc dã man. Cơn lốc tản cư trải
ra khắp vùng với phong trào “mỗi hộ cưu mang một hộ”, để rồi cuối cùng không
những giữ vững được Khu ủy Phiêng Pằn mà các lực lượng vũ trang xã còn không
ngừng lớn mạnh và mở rộng ảnh hưởng, mở rộng lãnh thổ hoạt động sang các xã
khác. Có những giai đoạn lực lượng du kích Phiêng Pằn cùng với Đội vũ trang
Quyết Tiến, Đội vũ trang Trung Dũng và các đại đội Khu 870, 818, 834… liên tục
đập tan kế hoạch “càn quét khu tranh đấu Hát Lót, củng cố Mai Sơn, Yên Châu”
của địch. Có trận bắt 37 tên tàn quân, quan Pháp và lính Âu Phi “hóa phỉ”. Rồi
tiếp tục phối hợp với đội du kích Hát Lót và các lực lượng bội đội chủ lực,
thuộc các đại đoàn 312, 308, 316… tấn công vào căn cứ điểm Nà Sản với hàng loạt
đồn bốt, từ Pom Si, Pom Sằn, Pù Lanh đến Nong Nghè… với tổng số địch lên đến
ngót 4000 tên; vừa tiêu diệt vừa làm bị thương 404, bắt 226 tên và thu 218 súng
ống các loại. Cộng thêm chiến công ở một loạt các đồn bốt liên hoàn ở Hát Lót,
Chiềng Mung, Cò Nòi, Chiềng Lương, Chiềng Mai… tạo nên chiến thắng thu đông
1952 và góp phần phá sản ý đồ xây dựng hành lang Đông – Tây của thực dân Pháp.
Riêng đội du kích Hát Lót tiêu diệt tổng cộng 196, làm bị thương 125, giác ngộ
hàng binh 130 tên, bắt và giết hàng chục tên mít xe, thu 97 súng các loại. Tuy
nhiên để có được thành công ấy, xã này cũng đã mất đi hơn 300 cán bộ, nhân dân
trung kiên và anh dũng.
Càng đi vào sâu đường biên càng thấy
cảm giác mình chính là một thuộc tín văn võ toàn tài của “Quả cảm tướng quân”
Cầm Nhân Quý ở triều đại Lê, chỉ bằng đôi chân, chớp mắt đã biến mất hút trong
các thung núi bên này, thoắt cái lại đã thấy ở trong hang núi xa kia; hay ít
cũng là một dũng tốt trong đội quân “Thập Châu” sát cánh cùng binh tướng Tàu Lê
Vĩnh Phúc vốn di sang Việt Nam từ sự cố Thái Bình Thiên Quốc, nhưng có tư tưởng
tiến bộ, cùng quân triều đình đánh lại quan Pháp và thổ phỉ. Đang đi vào trong
bọng núi, bỗng ở mép đường, một con hoẵng non tung cẳng nhẩy qua. Thật may là
không một tay súng săn Phiêng Pằn nào nghe thấy bước chân của nó, cả tiếng gọi
con róng riết từ trên đỉnh núi của con hoẵng mẹ nữa. Nhưng anh Dũng và cả anh
dân quân Lù Dua cho biết sẽ không có ai săn nó cả: “Vì hương ước của bản đấy,
cũng chẳng phải tại súng kíp đã giao nộp hết rồi đâu” (năm 2005, toàn tỉnh Sơn
La thu được trong dân 69.000 khẩu súng và vật liệu nổ các loại). Ngang qua khu
bãi “vay lương”, được biết đây chính là nơi mà nhân dân các dân tộc Phiêng Pằn
đã sẻ chia sự nghèo khó của mình cho kháng chiến tới 60 tấn lương thực (mỗi
ngày bình quân các đơn vị nhận được 200 kg ngô thóc và hàng chục kg thực phẩm).
“Không riêng gì ở Phiêng Pằn mà hầu
hết tất cả mọi nơi của Mai Thuận ngày ấy, Mai Sơn ngày nay đều có những khu như
thế”. Anh Tòng Văn Xuân, chủ tịch UBND xã Hát Lót nói thế rồi dẫn chúng tôi đi
xem bảng vàng thời kỳ chống pháp của nhân dân mình, trong quần thôn Xổng Tạo. Trên đường đi, ông
Tòng Văn Sừa, nguyên phó chủ tịch – Trưởng công an xã Hát Lót là một trong
những nhân chứng thời đó, còn khá minh mẫn, đọc một loạt: “Ngoài 15 huân, huy
và kỷ niệm chương của tập thể, 123 cá nhân được nhận huân chương các loại; 57
huân, huy chương Lào…. còn có 60.270kg thóc; 7000 kg gạo; 204 đồng bạc trắng;
3600 đồng tiền đông dương; 74 con trâu bò; 324 sải vải Thái; 1420m2 nhà ở; 140 cung nỏ và 84 khẩu súng
kíp…”. Sang thời kỳ chống Mỹ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Hát
Lót còn vinh dự được Nhà nước tặng thưởng 198 huân chương, 85 huy chương kháng
chiến, 71 huân chương chiến công, 53 huân, huy chương Lào… nữa. Quả thực khi đi
xuyên qua đất rừng Hát Lót, chúng tôi mới hiểu tại sao hai đế quốc to lớn với
cơ chế súng đạn, điều kiện chiến đấu và cả sự hậu thuẫn đắc lực của các lực
lượng thù địch Việt Nam, mà vẫn thảm bại một cách cay đắng ngay trên mảnh đất
chưa đầy 9.000 ha, với vài chục bản bị kìm kẹp cũng gần chừng ấy đồn, bốt có số
lính đông hơn vài lần dân số xã. Ngoài tình yêu nước và lòng căm thù giặc cháy
bỏng, nhân dân các dân tộc Hát Lót đã thông minh vận dụng chui sâu, bám chặt
vào địa hình địa vật để dùng tất cả những gì có thể làm nên kỳ tích lớn. Chỉ
tính riêng trong thời kỳ chống Mỹ, Hát Lót đóng góp cho quốc gia hơn 400 dân
công, 195 chiến sỹ; tận dụng 1.200 công ích; đào trên 350 hầm kèo; 2.500 hầm cá
nhân; làm đường vào cho mạng lưới 150 chiếc hang sơ tán cán bộ tỉnh, huyện và
nhân dân trong xã (đúng như lời ông già người Mông nói trên nóc lán nương, khi
ông chỉ tay về hướng Bắc: “Hát Lót đấy. Nhưng mà khéo rơi hang”); tham gia 250
trận đánh lớn nhỏ để bây giờ toàn xã có 22 liệt sĩ, 47 thương bệnh binh, đã mất
và bớt đi phần xương thịt
vì dân vì nước…
***
Ngồi trên đỉnh núi 1800 nhìn xuống 2
xã vùng cao Phiêng Pằn, Chiềng Nơi mà nghe những người có chức năng nói về
nhiệm vụ của bội đội địa phương thời bình và “giáo trình bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn”. Như một “kho
sách”, anh Dũng giảng một mạch về nghĩa vụ mà các anh phải giúp đỡ 20 xã, 1 thị
trấn trên địa bàn toàn huyện. Tôi ghi vội được 4/8 chuyên đề, gồm những phần
việc của tất cả các nhà: xã hội học, kinh tế học, chính trị học, nhà đối ngoại,
luật gia, thanh tra tư pháp… và cả nhiệm vụ của một công an nữa rồi mới đến
“quốc phòng” của chính các anh. Tất cả đều có trong một chiến sĩ quân đội nhân
dân Việt Nam
thời kỳ mới. Mai Sơn là huyện vùng cao biên giới được tỉnh Sơn La “xếp hạng”
đặc biệt quan trọng về chiến lược an ninh quân sự cũng như kinh tế chính trị.
Với diện tích tự nhiên 1.410,3 km2; phía Đông giáp Bắc Yên và Yên
Châu; phía Nam giáp Lào; phía Tây giáp Sông Mã; phía Bắc giáp thị xã Sơn La và
Thuận Châu. Huyện có 6 dân tộc anh em sinh sống với tổng số 111.358 người. Hiện
thế giới, và nhất là Việt Nam – một trong những mối quan tâm hàng đầu của bọn
chủ nghĩa đế quốc – đang bị
ảnh hưởng sâu sắc trước một kiểu chiến tranh mới, thay thế cho chiến tranh súng
đạn, đó là “Diễn biến hòa bình”; với mục tiêu chủ yếu là xóa bỏ các nước XHCN
trên thế giới, tiến tới toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa để thiết lập và củng cố
vai trò lãnh đạo, mà thực tế là khống chế, bao vây cấm vận… thậm chí can thiệp
thô bạo tới cả văn hóa bản sắc của bất kỳ nước nào yếu hơn. Ban đầu chúng núp
dưới chiêu bài “bình thường hóa quan hệ” để nhanh chóng chuyển chiến thuật từ
“chiến dịch” “hành động kiên quyết” bằng “cấm vận kinh tế” “khống chế ngoại
giao” sang thủ đoạn “dính líu” “ngấm sâu” và bắt đầu chống phá từ lĩnh vực tư
tưởng văn hóa để đả phá về lý luận, quan điểm, đường lối… đến lĩnh vực tổ chức
nhân sự: “Cài cắm”, “chu sâu, leo cao”; rồi dùng kinh tế để gây sức ép, tác
động chuyển hóa chính trị như “chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường”, “tư
nhân hóa tài sản”. Ngoại giao thì núp dưới danh nghĩa “ngoại giao thân thiện”
“hữu nghị phát triển”… để đưa Việt Nam vào việc quen dần và “hòa nhập” cùng
cộng đồng các nước tư bản. Đặc biệt về tôn giáo tín ngưỡng thì lợi dụng các lực
lượng phản động trong các dân tộc ít người để kích động đòi “tự trị” trên từng
khu vực; biểu tình chống phá đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến
tới “bạo loạn lật đổ” dần từ địa phương đến trung ương. Âm mưu trắng trợn và
thâm độc không kém gì lĩnh vực tôn giáo, dân tộc là “phi chính trị hóa quân đội
và công an”, vô hiệu hóa lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng,
Nhà nước; chống phá xã hội hóa an ninh quốc phòng… nhằm xuyên tạc, gây mơ hồ,
chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với quân đội, quân đội với công an, quân đội với
các ngành khác vv và vv… . Thú thực khi mới có ý định viết về “lực lượng bộ đội
địa phương” các anh, tôi cứ nghĩ đơn giản là chỉ có nhiệm vụ tuyển quân, xây
dựng lực lượng dân quân, tự vệ xã và sẵn sàng chiến đấu; ai ngờ các anh còn có
nhiều nhiệm vụ đến thế. Sống ngay giữa thời bình đẹp đẽ, no ấm và đủ đầy
như chính hôm nay tôi đang
ngồi cùng các anh ăn bữa cơm “định suất” đơn giản, và chơi thể thao để nâng cao
“sức chiến đấu” (theo các anh cũng là một nhiệm vụ); mà không hề hay biết cả
đơn vị vẫn luôn luôn được đặt trong chế độ sẵn sàng chiến đấu cao. Không kể
ngày nghỉ, ngày lễ tết, công tác huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ
luật được duy trì thực hiện ngay trong Ban chỉ huy quân sự huyện. Từ sĩ quan
cho tới chiến sĩ đều phải được “phơi ra” thao trường theo yêu cầu nhiệm vụ
trước tình hình mới. Thường xuyên đi sâu, bám sát mọi diễn biến đời sống, việc
làm, lời nói… của tất cả các đối tượng quần chúng trên địa bàn huyện, để đảm
bảo được nhiệm vụ nặng nề: “An ninh nông thôn”. Thực hiện tốt mọi nhiệm vụ quốc
tế, mà cụ thể là thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị với người anh em CHDCND Lào,
kiên quyết ủng hộ, giúp đỡ bạn đập nát họa thổ phỉ, vốn đang được bọn tình báo
Mỹ và Thái Lan hậu thuẫn chống phá. Bám sát, quản lý chặt chẽ người nước ngoài
như một chiến sĩ an ninh ngoại tuyến, trong nội địa đấu tranh bắt giữ nhiều vụ
buôn bán phụ nữ của các đối
tượng người Trung Quốc và người Lào Cai, rồi hàng chục vụ tranh chấp đất đai,
di cư tự do, buôn bán vận chuyển ma túy, chộm cắp, cướp giật, ẩu đả gây thương
tích, dẫn đến chết người… . Ngoài việc phải giữ thanh bình cho nhân dân, cho
các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp… còn có nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập chiến đấu
trị an, giúp cho thôn, xã trở thành một đơn vị bộ đội với đầy đủ kiến thức, lực
lượng và trang bị như một binh chủng thứ thiệt. Trong một lần tham gia buổi rà
soát quyết tâm A2, A3, A4; các kế hoạch sẵn sàng chiến đấu: Phòng chống các
hoạt động khủng bố; phòng thủ bảo vệ cơ quan; kế hoạch bảo vệ biên giới; kế
hoạch bắn máy bay bay thấp của tổ BB; kế hoạch phòng chống bão lũ, phòng chống
cháy nổ… dự bị động viên Tráng A Tông hớn hở chạy lại phía tôi sau giờ giải
lao, để xin một kiểu ảnh cho mình, cho đồng đội, rồi nhanh nhảu chú thích: “Kia
là thằng Khao trinh sát, thằng Miền quân báo, thằng Hặc pháo binh, thằng Thân
phòng không, thằng Khiêng hợp thành…; anh nhớ quen mặt trước viết tên sau nhé”.
Đã từng qua quân ngũ nên tôi rất hiểu cái sự nhiệt tình, năng nổ và thẳng thắn
như một “khẩu lệnh” ấy của anh lính trẻ. Các anh đang tự giữ gìn hòa bình cho
quê hương bé nhỏ cấp bản, xã của mình trong một khía cạnh nào đấy. Qua mỗi đợt
huấn luyện, mỗi đợt ra quân, người chiến sĩ tự lúc nào đã trở nên gắn bó, thân
thiết với nhau cả đời thường lẫn trong công việc. Ai đó đến địa bàn không việc
gì phải ngạc nhiên khi có một anh bộ đội với tư cách là một phó bí thư Đảng ủy,
một phó chủ tịch xã, hay công an, mặt trận… ngồi “bàn tròn” trong bộ máy hành
chính xã, thị trấn họp HĐND hay hội ý thường vụ xây dựng nghị quyết “chuyển địa
phương từ thời bình sang thời chiến”; xây dựng văn kiện thực hiện củng cố nền
quốc phòng toàn dân, nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ và nhiều việc khác
nữa. Tất cả vừa là để chống chiến tranh trực diện bằng vũ khí và chiến tranh
gián tiếp “diễn biến hòa bình” , “bạo loạn lật đổ” của các lực lượng thù địch
bên ngoài cũng như nằm ngay trong giới tuyến. Ai đã từng ôm bộc phá nặng hàng
chục kg lao vào cái nắng hè thiêu đốt (tháng 5.2005) ở Chiềng Chung trong kế
hoạch diễn tập chiến đấu trị an “Một bên một cấp một phần thực binh”; hay vài
yến “hàng giả” trên lưng hành quân cả ngày trong những cơn mưa hạ (tháng
6.2005) ở núi rừng Chiềng Lương; rồi bỗng dưng “lột xác” thành một chiến sĩ
cảnh sát cơ động, đấu tranh phòng chống bạo loạn ở Mường Bon tháng 7.2005, mới
thấy chất gang thép có trong con tim và khối óc của những người lính.
Tôi đã có dịp theo Ban huấn luyện KTT
vào xã Chiềng Chăn - một
trong những điểm lợi dụng tự do tín ngưỡng để truyền đạo trái phép lớn nhất
huyện Mai Sơn. Đây là địa bàn bán sơn bán địa thuộc cụm các xã sông đà, ruộng
vườn màu mỡ rất thích hợp cho chăn nuôi và chồng chọt. Tuy nhiều đồng bào người
Mông ở đây không tin vào sự ấm no từ đất mà lại đi tin vào những luận điệu nhảm
nhí rằng ở Philipin, vị “vua” kính yêu của họ đang bị một thế lực siêu nhiên
nhốt trong hang đá. Không biết tự bao giờ vị “vua” này phải sống bằng việc uống
nước từ bẹ cây măng vàng mọc ở cửa hang nhỏ xuống; nếu muốn cứu được “vua”,
muốn “giải phóng dân tộc” để cùng nhau lập nên một “vương quốc Mông độc lập”
thì phải cầu khấn, phải theo đạo càng đông càng tốt. Khi “vua” ra được rồi sẽ
ban phép màu cho, không phải làm gì cũng có ăn, biết biến hóa hòn đá to thành
con trâu, hòn đá nhỏ thành con lợn; núi đồi thì thành nhà, thành làng, thành
bản. Người “đắc đạo” sẽ được lên trời tu quả để sau đó lại được phái xuống làm
vua; người có nhiều đóng góp tiền bạc sẽ được chia đất trên trời vv và vv… .
Thế là từ việc chỉ có một người của một hộ ở một bản, cách nay hàng chục năm,
“nghe được tiếng gọi thiêng liêng” của “vua” khăn áo ra đi vào tận Miền Nam,
giờ đã lan đến 7 xã, 12 bản, 87 hộ với 545 nhân khẩu. Tất nhiên 545 con người
này đã quá rõ cái việc ngay từ những ngày đầu, bọn Giáo sĩ người Pháp hồi năm
1905 sang xây dựng thánh đường ở Sa Pa (Lào Cai) đã lấy tuyên truyền xằng bậy
nhằm phục vụ cho mưu đồ xâm lăng, thống trị của chủ nghĩa thực dân là; “...
người Mèo (nay Đảng và nhân dân Việt Nam gọi là người Mông) và người Pháp là
anh em cùng một tổ phụ. Chăm sóc phần hồn cho người Mèo và người Pháp là Chúa, và
Chúa là “con ma” nhiều quyền lực nhất, chế ngự được tất cả các loại ma;
ai theo Chúa sẽ không sợ bất kỳ giống ma nào khác.”... Chuyện sẽ không được
nhắc lại nếu như không từng xảy ra tang thương đối với những người theo đạo.
Năm 1998, tên Hạng Chu Vá (xã Phì Nhừ – huyện Điện Biên Đông) vừa dụ dỗ vừa
cưỡng ép 13 hộ bằng 85 khẩu người Mông tự do di cư sang Lào nhằm dễ bề thổi vào
tai bà con những điều tội lỗi; hậu quả là 22 người bị chết do đói rét, do bệnh
tật và do ngu muội (có người không chịu nổi cuộc sống vất vưởng du canh du cư
đã tìm cách quyên sinh để được lên trời hưởng vinh hoa phú quý trước. Cho đến
nay, theo số liệu chưa đầy đủ đã có gần 100 người Mông chết vì tập bay lên trời
ở các tỉnh phía Bắc). Chưa kể hàng năm, hàng ngàn lượt người Mông ở nhiều xã,
nhiều huyện vùng cao Tây Bắc lâm vào cảnh khốn cùng màn trời chiếu đất, lớp
trong rừng sâu, lớp vật vạ ở bên kia biên giới. Đói rách, thất học và đau ốm
liên miên. Đói rách vì đi nhiều, cầu nguyện nhảm nhí nhiều, làm ít (chờ Vàng Chứ hoá phép
cho cái ăn, cái mặc, cái ở và cái sướng...). Tổ tiên người Mông xưa đã có câu:
“Giầu đi nhiều sẽ nghèo, nghèo đi nhiều sẽ chết”. Thất học sẽ mất dần tập quán
truyền thống, mất dần bản sắc văn hoá, lâu dài Vàng Chứ (“Vàng chứ ntux” tức
Vương chủ - ông vua làm chủ bầu trời) sẽ triệt tiêu, sẽ đồng hoá nền văn hoá
Mông với những nền văn hoá ngoại lai, xa lạ và phản động khác để chúng dễ dàng
sai khiến, dễ dàng thống trị. Được biết nguyên nhân thật đơn giản và không kém
phần khôi hài: Vào khoảng tháng 6.1987, Đài “Nguồn sáng” phát bằng tiếng Mông
trắng, từ Manila (Philipin), được tiếp sóng ở Hồng Kông loan tin: “đến ngày
14.7.1987 sẽ có mưa to gió lớn, nước ngập khắp trần gian”. Không những thế, họ
còn tuyên truyền lời của chúa: “Đến năm 2000 trái đất sẽ vỡ tung, mọi người sẽ
chết hết. Nếu ai theo Vàng Chứ sẽ được sống sung sướng. Nhưng, phải dỡ bàn thờ
tổ tiên để thờ Vàng Chứ; phải mua đài để nghe Đài Manila; phải nộp từ 20% - 30%
giá trị tài sản thì mới được đăng ký để bay lên trời định cư...”.
Thật là láo khoét. Rất nhiều người
Mông đã tỉnh ngộ. Rất nhiều người Mông ở nhiều nơi trên tổ quốc này đã tẩy chay
bọn mượn đạo để lừa người. Rất nhiều người Mông đã quay về với Đảng và Chính
phủ để được hưởng sự quan tâm và ưu đãi dân tộc đang ngày một làm tốt hơn, ví
như: 69 hộ, 472 khẩu ở xã Phiêng Cằm năm 2005 đã không còn muốn tụ tập cầu
kinh, để rồi mất việc, đói ăn đói mặc, đói chữ; hay hàng chục người nữa ở hai
xã Phiêng Pằn và Chiềng Lương, qua thực tế trải nghiệm thời gian theo Vàng Chứ
và qua truyên truyền của các đội công
tác cơ sở, Ban chỉ huy quân sự huyện đã thấy rõ tệ hại của loại dịch này nên đã
bỏ hẳn đạo trái phép. Hiện tại ở bản Tong Chiêng (Chiềng Chăn – Mai Sơn), tên
trùm đạo Vàng A Ph. sinh năm 1960, trình độ văn hóa “không lớp nào”, được hưởng
lương hàng triệu đồng để “Phụ trách đạo trên địa bàn toàn tỉnh Sơn La”, vốn
được “các anh em đạo” mệnh danh cho biệt hiệu “tụng kinh nhiều nhất năm” và
“cãi giỏi nhất năm” nhưng khi đứng trước Đội công tác cơ sở của lực lượng quân
đội, hắn đành phải cúi đầu vì không “biến” đi đâu được, không “bay” đi đâu được
và cũng chẳng “làm phép” cho ai sướng được như lời tên cha đạo người Pháp đã
từng danh dự hứa. Tất cả những công trình phúc lợi phục vụ thiết thực cho cuộc
sống đồng bào vùng sâu, vùng xa bây giờ nhiều người đã biết là do Chính phủ
giúp mới có; chẳng ai thấy tên Vàng Chứ, tên “vua’ đạo “hóa phép” ra được thứ
gì…
***
Mai
Sơn là vùng đất giầu truyền thống yêu nước ngay từ thời vua chúa phong kiến,
đến thời Pháp thuộc rồi thời kỳ chống đế quốc Mỹ phá hoại. Năm 1873, khi Pháp
xâm lược Bắc kỳ lần thứ nhất, nhân dân Mai Sơn đã tham gia vào đội quân “Thập
Châu’ sát cánh cùng quân Cờ Đen đứng lên chống trả hết sức anh dũng. Phong trào
“toàn dân đánh Pháp” càng trở nên rầm rộ kể từ khi chúng tiến hành xây dựng nhà
ngục Sơn La. Thủ lĩnh Cai Khạt là một trong những “hạt giống” còn lại, âm thầm
ươm cấy tại Mường Chanh, để rồi từ đó nơi này trở thành “hòm thư” nối mọi sự
liên lạc, chỉ đạo của trung ương với Chi bộ nhà tù Sơn La; và trở thành “nguồn
năng lượng” khởi điểm, tiếp sức cho “Hội thanh niên cứu quốc” – tiền thân của
lực lượng cách mạng Mai Sơn – ra đời, ban đầu chỉ với 10 thanh niên ưu tú nhất,
mà đứng đầu là anh hùng Chu Văn Thịnh. Trải qua hơn một thế kỷ chiến đấu và
trưởng thành, nhân dân các dân tộc Mai Sơn tự lúc nào đã trở thành “lò” hun đúc
nên ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, thắp sáng lý tưởng cao cả của lớp lớp thanh
niên yêu nước; là nơi nuôi giấu, che trở các lãnh tụ, những đoàn quân Tây Tiến
và cả những du kích quân, thành một hệ thống các thế hệ những người con anh
hùng. Hết Mường Chanh – lá cờ đầu của phong trào cách mạng Mai Sơn, ngoài nhiệm
vụ chiến đấu ra còn nhiều lần bằng sự thông bác của mình đã làm thất bại hoàn
toàn âm mưu “Chia để trị’, “Dùng người Thái trị người Thái” của Pháp; đến Mường
Bằng rồi Cò Nòi lần lượt vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu “anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ chống Pháp. Riêng Cò Nòi còn một danh hiệu
nữa, đó là “Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới”. Tới đây, ít nhất có ba xã
nữa là Hát Lót, Phiêng Pằn và Chiềng Lương sẽ được đưa vào danh sách đề nghị
Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp
cho những thành tích bất diệt của mình. Tất cả những gì Mai Sơn có, Mai Sơn làm
và Mai Sơn hưởng đều xứng với lịch sử của vùng đất vốn là trọng tâm của bom đạn
thời chiến tranh, và cũng là trọng tâm kinh tế thời mở cửa.
Bằng một bài ký đăng một kỳ không thể
nói hết được những gì cảm nhận từ vùng đất này, nhưng có một điều mà tôi tin rằng,
dù không nói lên được, thì bằng sức phấn đấu của một huyện anh hùng (năm 2001,
huyện Mai Sơn vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân” thời kỳ chống Pháp). Bằng những gì tai nghe mắt thấy hôm nay
của một thế hệ có đầy đủ tri thức, năng lực và nhiệt huyết; lại được cộng thêm
truyền thống đi suốt chiều dài lòng dân, vẻ vang và kiêu hãnh, các anh sẽ làm
được những gì Đảng và Nhà nước yêu cầu ở lực lượng vũ trang thời kỳ mới. Chia
tay nhau trong buổi bình minh (vì tôi không muốn chia tay vào lúc hoàng hôn),
chim nhạn núi đã quay về, báo hiệu một mùa xuân đầy ắp tiếng pí, tiếng kèn lá rủ nhau, chài nhau ở phía trước. Những cái bắt tay
chặt như khóa thể hiện sự xung mãn tràn trề của người lính, cho tôi thấy yên
tâm hơn về một Mường Mụa vững mạnh với những Xổng, những Ngũ, những Sách… giầu đẹp, yên bình và
căng tràn nhựa sống như ngực cô gái Thái, gái Mông tuổi đôi mươi đang thừa bứa
niềm tin, thừa bứa tình yêu được thể hiện qua những điệu khắp sao, khắp báo hay “Tiếng hát làm dâu” có “Giàng Dua
– Giàng Dự”, “Khúa Kề”... dưới
sự che trở, bảo vệ và xây dựng của đội ngũ những người chiến sĩ là toàn bộ nhân
dân các dân tộc Mai Sơn./
Mai
Sơn - Sơn La, 25.02.2006
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét