27 tháng 2, 2013

DƯỚI CHÂN NÚI VÁCH THƯNG TRỜI

        Chỉ cách nhau một tiếng gà gáy, mà đi sao hun hút, sao vời vợi quá. Đúng là gần mắt xa chân mà. Dẫy núi Vách Thưng Trời (tiếng Thái là Pu Pha Phạ) thì đứng ở đâu mà chả nhìn thấy, nhưng tôi muốn nói chuyện khuất lấp dưới chân núi kia. Một lặng lẽ? Một trầm kha? Hay khoảng trũng của con người nó thế? Nghiền xát tới mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu! Nằm lọt vào giữa bụng dẫy núi “rào chắn bản”, bản Sẳng, xã Ngối Cáy, huyện Mường Ảng, (Điện Biên) vốn chẳng có biểu hiện gì rực rỡ kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay bởi cái sự ngại văn minh, ngại tiến bộ và ngại cả cách người ta đem mình ra nói chuyện như một sự thật. Kinh tế bản Sẳng thì chẳng ai nhắc đến bao giờ, nhưng nợ nần bản Sẳng lại được xem như một trường kỳ ký sự.

            Cách nay quãng trăm năm, trong dòng người chạy Tây từ Thuận Châu (Sơn La) vào hai bản Ngối và bản Cáy hình thành nên xã Ngối Cáy bây giờ, có một gia đình tách ra, chọn lòng “Suối Chảy” (bản Sẳng) làm nơi ẩn náu trước mối đe dọa của cả giặc giã lẫn đói kém. Thung lũng hình chiếc máng, sâu lòng hẹp miệng, có con suối Nậm Cô ở chính giữa, quanh năm nghiêng nước sầm sập từ Tây Bắc xuống Đông Nam này, kể từ khi có một nóc nhà với gần chục nhân khẩu của cái gia đình “thành hoàng”, đến lúc có tới 64 hộ, 397 khẩu, của 3 dòng họ, cả vì áo cơm lẫn nghe theo tiếng gọi tình yêu tìm về, thì đất vẫn cứ chỉ vẻn vẹn 1500ha. Dưới bằng ngập nước, trên núi dốc dựng, đến nỗi hạt giống thả xuống 10 chỉ đọng lại 3. Công cuộc mưu sinh của dân bản như được đóng cọc vào lòng máng ấy. Qua suốt một thế kỷ chỉ có hơn 1ha ruộng nước và vài chục ngàn m2 ao được khai lập. Đời sống cao hay thấp phụ thuộc hoàn toàn vào 540m2 ruộng, nương chia đều cho mỗi khẩu. Được mùa đã đói, mất mùa càng đói hơn. Tháng ba ngày tám trông chờ cả vào củ khúc khắc, mật ong, bông chít, bông lau, hay những chai rượu sâu chít, rượu ong đất và gỗ pơ mu xẻ lậu trên rừng. Mường Đăng xưa, Mường Đăng và Ngối Cáy nay vốn là “cái mỏ” gỗ pơ mu, nhưng giờ chỉ còn được mượn làm con đường đen để bọn lâm tặc vận chuyển gỗ quí ngang qua bằng những đôi vai bọc thép, đi bộ đằng đẵng suốt mấy ngày trời. Chuyện người dân giết rừng, giết luôn cả cán bộ canh rừng năm 2004 vẫn chưa làm cho rừng hết chảy máu(?)
            Khí hậu bản Sẳng khó tính như bà chửa. Bỗng đấy mưa vần gió thốc. Nhất là về mùa đông, sương muối khiến chẳng thứ cây gì kết quả nổi, chính thế mà cái đơn vị bản chia làm hai khu này chẳng có lấy một vườn cây trái, ngoài dăm khóm tre được khai thác triệt để, nên cây non nhiều hơn cây già. Rau xanh mỗi nhà cũng chỉ vãi một khoảnh trên nương vào mùa mưa, mùa khô thường dùng “canh cải tiến” là muối, mì chính hòa nước suối. Cá bản Sẳng chỉ phát triển được một mùa, mặc dù nước ở đây không thiếu, rét đến không chết thì cũng rơi vào trạng thái ngủ đông. Cá thương phẩm lặng lẽ còi thành cá… giống. Đến cả những đàn dê, vốn được trời phú cho những bộ lông “cỏ khô”, nhưng khi chống được rét thì lại không thể kháng bệnh phát sinh do rét…
            Trưởng bản Lò Văn Xuyến là người kiệm lời. Anh lùi lũi dẫn tôi đi thăm khắp 72% cái sự nghèo, mà mỗi sự một vẻ. Khi sang tới “vùng đặc biệt” của bản, sau một thôi cuốc bộ, ngoái đầu nhìn lại 33 hộ bên này suối Nậm Cô được kết nối với 31 hộ bên kia bởi một con đường mòn và chiếc cầu tre đan, kê chênh vênh trên những rọ đá chỉ phục vụ một mùa nước nhỏ mà thấy hắt hưu, quay quắt quá. Chính ở cái lý ấy mà bản Sẳng có chức “trưởng bản tạm thời” lúc bị nước chia cắt. 31 hộ sống leo vào đường liên bản còn đỡ, chứ 33 hộ bên trong nếu “toán thấp” (tức tính ngắn) thì đến muối cũng không còn mà ăn chứ đừng nói thứ khác. Chuyện người ta gói dầu ma dút, gói rượu… vào túi ni lon rồi ném sang tiếp tế cho nhau là chuyện thường tình. Đoàn cán bộ bản dẫn tôi đi trong im lặng. Con đường “giờ thứ 9” được một anh bộ đội sáng kiến ra, đã được nghe từ ngoài xã, nhưng vào nhìn rồi, thậm chí tôi còn bốc nắm đất đỏ lên tay xem khi thấm đẫm mô hôi và nước mắt, con đường có nhẵn ra, phẳng lên không, nhưng chẳng phát hiện được gì ngoài sự gập ghềnh, quanh quất. Quần cư này đã mưu sinh cả thế kỷ nhưng vẫn chưa có đường. Nhà nhà được dựng gá vào sườn đồi, mạnh ai nấy đạp rừng mà đi, mà trèo thành những con đường mòn cắt nhau nhằng nhịt. Đường nhiều thế nhưng chỉ ngựa nhà đi thôi, ngựa máy thì chịu. Từ khi có thanh niên Hiến đi bộ đội về phát động, hằng ngày mỗi hộ một người cuốc đường vào giờ thứ 9. Cứ thế vài năm sau đã có thể đi xe vào từng nhà, chỉ có điều: “Phải đi thắng con suối ngoài đầu bản cái đã”(!) 
            Đi theo mấy câu phổ thông bập bõm của một em nhỏ: “Trong nhà kia, cán bộ bản nó đợi từ sáng”, tôi xách dép trèo lên thang một ngôi nhà sàn một gian hai chái lợp gianh, dựng cheo leo ngang lưng dốc đứng, một dáng dấp quen quen lộ ra bên khunh bếp:
   - Hiến - Lò Văn Hiến B1, C9, E82 phải không?
   - Hình như thủ trưởng Lợi, Lợi 100?
            Trời ơi! Thì ra là đồng đội cũ, ngày xưa tôi là A trưởng của Hiến. Trong danh sách trích ngang Hiến khai ở bản Sẳng, Mường Lăng - Tuần Giáo tôi có biết đâu là Hiến nói ngọng Mường Đăng thành Mường Lăng. Lúc tôi quyết định chọn Mường Ảng làm quê hương thứ hai đã để ý đến với hy vọng tìm được một người quen giữa huyện rừng mênh mông xa lạ. Không ngờ lại gặp Hiến trong hoàn cảnh tìm về viết theo tiếng vọng của đói nghèo, lạc hậu thế này; mặc dù anh bạn lính nói còn ngọng líu ngọng lô ấy, giờ đã làm phó chủ tịch Hội nông dân tập thể xã. Đêm đó, Hiến bỏ vợ và hai con sang ngủ với tôi. Men rượu sắn cùng với men đồng đội ngấm vào gan, vào máu, cộng thêm những câu chuyện thật như bịa của Hiến khiến tôi không ngủ.
            Hầu hết là nghèo. Khu trong chỉ có đường một mùa, nhưng bản Sẳng có tới 27 chiếc xe máy và 28 bộ thu sóng truyền hình; có điều 100% là đi mua cắm với giá rất cao, rồi trả dần tới ba, bốn năm bằng thóc, ngô, sắn hoặc bằng gia súc. Có hộ chỉ có 500 ngàn, nhưng do quen biết sơ sơ với chủ đại lý ở trung tâm huyện, nên cũng đem được một chiếc xe về. Tuy nhiên, xe đi đã hỏng mà vẫn chưa có đăng ký, do tiền chưa trả xong nên chủ đại lý giữ lại giấy Hải quan. Như để đảm bảo chắc chắn cho lời nói của mình, trong khi đợi vợ làm cơm sáng, Hiến dẫn tôi sang nhà anh Lò Văn Biên. Ngôi nhà có khuân thước giống như nhà Hiến, một gian hai chái lợp gianh, toàn cảnh toát lên vẻ già nua rệu rạo. Nhưng khi gặp chủ nhà, theo Hiến là kém chúng tôi ngót chục tuổi thì thấy anh ta còn già hơn cả cái nhà. Biên bảo, vì không còn đủ sức gánh nông sản hơn bốn tiếng ra thị trấn bán, nên 2003 mang con trâu mẹ đổi lấy chiếc xe Win Tàu hơn mười triệu. Ba năm qua, Biên đã bán một tạ lợn, hơn tấn thóc, ngô… và vay suất 5 triệu vốn Ngân hàng chính sách “giúp đỡ phụ nữ nghèo” của vợ, nhưng vẫn còn thiếu đại lý 500 ngàn. Để tiện cho cuộc làm việc không chính thức ấy, Hiến chạy về vác bữa sáng mà vợ anh dậy chuẩn bị từ 4 giờ sáng, sang nhà Biên. Sau chén lẩu sơ thứ tám, cái thứ men cây nấu với sắn sượng mót ngoài bìa rừng ngấm vào đơ đảo, tôi tuột miệng thọc vào cái cục kiêng bấy nay vì nó mà bố con Biên ngại giáp diện nhau hơn.
    - Sao “chiếc chân máy” của anh nằm đắp chiếu lâu thế rồi mà không sửa để đi?         Biên chỉ cười chừ không nói. Trong nét cười, có cái gì đăng đắng lè ra. Ông Nghiên - bố đẻ Biên thì lại như ném đi được một hòn đá:
    - Cái của không “chứng minh thư” này ốm không có tiền chữa. Vụ vừa rồi, nghỉ ăn cũng chỉ đủ trả nợ bộ thu sóng truyền hình, cái ti vi mua từ năm kia và tiền chuộc xe ra khỏi kho công an. Tiền mua cái xe này và tiền vi phạm luật giao thông, đủ mua hai cái khác rồi…
            Dường như còn muốn nói thêm điều gì hệ trọng nữa, nhưng có lẽ do lo lắng khi khách về rồi, bố con lại có chuyện để cho mẹ và con dâu phiền lòng, nên ông thả chiếc chén xuống bàn, lặng lẽ gạt nước mắt đứng lên, dắt con trâu mới nhận nuôi rẽ, đi về phía chân rừng. Không riêng bản Sẳng mà ở cả những nơi là quãng đầu và khúc cuối dẫy núi Vách Thưng Trời, cảnh người ta không nhịn được hưởng thụ, đã cầm cố đất ở, đất canh tác, bóp miệng ăn người lớn, sự học trẻ con… để mua sắm những thứ không cần thiết, dẫn dến nợ nần điêu đứng. Có vụ đem nhau ra tòa, có vụ trốn nhà chạy nợ… Tôi từng chứng kiến cảnh người dân dẫn một lượt hơn chục chủ nợ, từ nợ xe máy, nợ ti vi, nợ tiền làm nhà, tiền cưới con, làm đám ma, tiền ăn, tiền học… ra, rồi chỉ xuống ruộng lúa. Chỉ một loáng, các chủ nợ tự gặt, tự đập, tự quạt sạch không chừa lại một hạt thóc. Chính quyền địa phương đã không ít lần phải giải quyết xung đột; nhưng không phải con nợ mà là giữa các chủ nợ tranh nhau… bắt nợ(!)
            Còn có nhiều “trọng bệnh” nữa  như tục cúng ma, cưới hỏi, sinh con, xin tuổi… mà từ lâu đã trở thành “tai nạn” đối với các hộ nghèo. Nhà có người ốm, muốn đi viện phải “báo cáo” ma nhà, ma họ, ma bản… bằng một con thú bốn chân, hai con thú hai chân và hàng chục cân rượu, gạo, trứng... Khi về cũng tương tự, phải xin ma cho “nhập khẩu” nếu không sẽ không biết nhà, họ, bản vừa có thêm người mới. Cũng vì nợ nần bế tắc mà 2002, anh Lường Văn Quynh, bản Pá Ban buộc để con nằm nhà chờ chết, do đi viện quá nhiều, không còn vay đâu được nữa. Vào tháng 6.2007, anh Lường Văn Thoát cùng bản, cũng vì  hết cách kiếm tiền mà đành ngồi nhìn vợ băng huyết cho đến chết.  Tục cưới cũng làm khổ chẳng riêng ai. Người ta lên danh sách những nhân vật quan trọng trong nhà, trong họ, trong bản, trong xã… rồi sắm cho mỗi vị, người bộ com lê, người đôi giày da, cặp áo váy… Các vị có tên “bị” nhận quà dù được báo trước hay bị động, cũng phải dốc ra “mừng” lại gia chủ từ 50 - 70% giá trị quà tặng. Nhà có đám suy kiệt đã đành, người đi đám cũng khốn nạn không kém. Quà mừng chẳng dùng được vì nhỡ cỡ, cũng chẳng bán được vì là hàng xào, đành chờ con em nên gia thành thất để… “tái tiêu thụ” theo cách: “Nó đến nhà nào thế thì ra đi thế ấy”. Vậy là tảo hôn trở thành một liều thuốc cấp cứu hiệu nghiệm cho những ca sốc, dạng lâm sàng có dự báo.  ông Cà Văn Giọn vì gần chục đám “nợ cưới” đã phải bán ruộng, bán bò, thậm chí giả ốm liệt giường nửa tháng nhưng vẫn không… chạy thoát. Cuối cùng đành phải cưới liền hai đứa con gái tuổi vị thành niên để “phản đòn”, ai ngờ không lo nổi quà mừng, đành “biếu không” hai thằng con rể.
            Tuần trước, gia đình anh bạn giáo viên, cùng trường với vợ tôi, quê gốc Ngối Cáy, có ông bố quy tiên ở tuổi 97. Xin chia buồn vì cái lẽ thường tình sinh lão bệnh tử, nhưng cũng mừng cho anh bởi hồng phúc, thiên định cho ông cụ nhà anh đại thượng thọ, lại ra đi trong tư thế thanh thản, sạch sẽ và mát mẻ. Thế nhưng, cái hủ tục đè nặng hàng trăm năm qua thì dường như không hề có dấu hiệu mát mẻ nào. Ngày cao điểm, gia đình anh tiếp tới 500 người, đến mức thịt 1 trâu, 6 lợn và hàng trăm gà, rồi chia cho từng người đến viếng, để họ tự tìm nơi nấu nướng, ăn uống no say vì gia đình không thể phục vụ nổi. Khi “chia buồn” với tôi, anh quên bẵng mọi lo:    
    - May nhà có ba anh em, chứ mà độc đinh sợ rằng theo bố luôn.

***

            Chuyện dưới chân núi Vách Thưng Trời đã “cao tuổi”, và cũng đã được xét nghiệm thấy thứ vi rút gây bệnh nhức đầu kinh niên của các cấp, các ngành ở Điện Biên. Xa trung tâm, đường xá khó khăn, địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, gần như chưa được đầu tư gì, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến chậm…  Chính vì thế mà năm 2005, UBND huyện Tuần Giáo chế ra một vị thuốc đó là lập một bản đề án, đề nghị tỉnh Điện Biên và Chính phủ chia tách huyện; trong đó có chia tách xã Mường Đăng, nhằm “làm mới” vùng này, chữa căn bệnh nhức đầu các cấp. Căn cứ vào Quyết định 75/QĐ - UBND của tỉnh Điện Biên; Nghị định 135/NĐ- CP ngày 14.11.2006 của Thủ tướng Chính phủ, vào ngày 9.2.2007 xã Mường Đăng chính thức chia tách thành hai xã Mường Đăng và Ngối Cáy.
            Trước kia, Mường Đăng vốn là 1 trong 12 xã đặc biệt khó khăn của huyện Tuần Giáo, bây giờ Mường Đăng và Ngối Cáy vẫn là 2 xã nghèo khó nhất của huyện mới Mường ảng, tách xã chính là tạo điều kiện để bứt phá khi mà hàng loạt các dự án được đồng bộ đầu tư. Nhìn vào mạng lưới điện “công trình điện lưới quốc gia do Ngân hàng Thế giới tài trợ” với những hàng cột, những đường trèo đèo lội suối mang ánh sáng về bản… Một dự án hàng tỷ đồng thông qua các tổ chức cựu chiến binh, phụ nữ, nông dân… tiếp sức cho hơn ngàn con trâu, bò; ngót 10 ngàn con lợn và ngót hai trăm ngàn con gia cầm đang trên đường kinh doanh, nhưng phần nào làm vui mắt những người nghèo, đói. Theo đó, đập thủy lợi Noong Sẳng cũng được đầu tư với chiều dài kênh dẫn ngót 4 ngàn mét, làm tiền đề cho bản Sẳng khai tạo thêm mấy chục ngàn m2 ruộng nước nữa. Màu ngói đỏ của trường học, trạm xá, bưu điện… ở hai khu trung tâm, màu xanh của lớp lớp ruộng nương được đầu tư khai phá và màu quyết định của hai con đường nhựa, một nối Mường Đăng, một nối Ngối Cáy với trung tâm kinh tế chính trị huyện Mường ảng phối họa thành thứ màu da thịt mới, đang trăn trở “cải táng” cho hàng loạt tục, lệ, lý…cõng, cưỡi hàng trăm năm qua khiến cho nền kinh tế, văn hóa… của  904 hộ với 5.700 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc: Thái, Mông, Kinh; phân bố ở 13 bản, trên diện tích 11.385,28 ha tự nhiên của cả 2 khu vực dưới chân núi Vách Thưng Trời (trong đó có bản Sẳng) bị… đóng băng vô thời hạn.
            Hy vọng từ một dự án thể hiện tính sáng suốt, kịp thời, tính dân tộc và tính nhân đạo của Đảng; cái quan niệm “nghèo, nhiều luật tục, nhiều nợ nần và chưa từng có người tốt nghiệp cấp 3” ở bản Sẳng sớm có dấu hiệu cựa mình, vươn vai đứng dậy, vùng chạy sau những tháng năm dài đi mà như bò dưới sự che trở của những con “ma” nhà, “ma” họ, “ma” bản…
Pu Pha Phạ, 27.9.2007

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét