27 tháng 2, 2013

GIỌT CHÂU BỖNG NGHẸN GIỮA DÒNG

         Khuya. Chiếc máy tính nóng tính, “treo” như cột cổ chữ nghĩa lên xà nhà. Ngả cái cảm hứng ra tựa ghế. Đêm đông Tây Bắc đổ nước đá vào trong quần áo. Thị trấn nhỏ hôm nay lạ, thanh niên biến đâu chẳng quấy nhiễu gì. Bỗng chuông điện thoại như vạng thông điệp cấp cứu vào đêm. Bà chủ làu bàu sau cú thót người. Bên kia, giọng bạn văn giục thúc: “Nhân vật của ông liệt giường rồi đấy!”.

            Ngay trong đêm, chiếc xe Win 110 nổi tiếng bất chấp vẫn không sao lướt lên lớp bùn dày như đáy đầm, phủ khắp 40km trên QL 279 vào thành phố Điện Biên Phủ. Đã hơn 2 năm, dự án nâng cấp, cải tạo con đường xuyên Tây Bắc vẫn trong giai đoạn hoàn thiện, nên đi lại hết sức thận trọng. Lộ trình tôi, qua con đèo Tằng Quái - nơi đã xảy ra vài vụ tai nạn, mấy người chết do đường đất ngổn ngang. Thương tâm nhất là hai nữ học sinh trung học phổ thông trong thành phố, đã bị đè chết (27.3.2007) khi đèo nhau túc tắc núp đằng sau chiếc xe tải suốt hơn 30km từ Điện Biên ra để trốn… công an, khi chiếc xe này lỡ đà, tụt ngược. Từ thành phố, theo con đường “vàng” 28 km Điện Biên - Mường Phăng, mặc dù nền đường hạn hẹp, chất lượng tầm tầm nhưng lại vất vả vác một nhiệm vụ hết sức nặng nề, là tận dụng triệt để các cuốc du lịch ta, Tây hay bất cứ một sự xuất hiện nào khác tới Mường Phăng -  một trong những “tập đoàn” di tích lịch sử ở Điện Biên Phủ.
            Tháng 5 Điện Biên vốn làm không ít người rơi nước mắt vì mất mát sót đau, vì chiến thắng và vì hạnh phúc. Như mới hôm qua thôi, tiếng súng rền và tiếng sụp đổ hệ thống “Pháo đài bất khả xâm phạm” và “Binh đoàn tác chiến Tây Bắc”, gọi tắt là G.O.N.O (Grou-pemenut Opé rationnet du Nord - Ouest.) niềm hy vọng bá vương của thực dân Pháp. Pháo đài bất khả xâm phạm là một tập đoàn gồm 49 cứ điểm, thiết kế và xây dựng theo phương thức phòng thủ tập đoàn mặt đất, hiện đại nhất Đông Dương, nhất Châu á và thậm chí là chưa áp dụng ở đâu trên Thế giới. Tất cả đều là sản phẩm được sinh ra nhờ óc quan giả tưởng và niềm hy vọng kim cương của ngài chiến lược gia quân đội viễn chinh Pháp, tướng Na - Va mà ta được biết qua Kế hoạch Na - Va “rung động” giới quân sự toàn cầu. Điện Biên có nguy cơ trở thành chiếc chìa khóa vạn năng, mở cánh cửa thôn tính Tây Bắc, tiếp đó là 3 nước Đông Dương; và cuối cùng là cả vùng Đông Nam á. Để vạch ra được cái kế hoạch viễn tưởng đầy ắp ma lực thôi miên ấy, Na - Va chỉ cần có vị thế và uy tín của chính mình trên chiến trường Đông Dương. Nhưng có lẽ để hiện thực kế hoạch ấy, Na -  Va không những phải cần có sự ủng hộ của toàn quốc gia đại Pháp, mà cả đế quốc Mĩ, khối đồng minh và… một vị “Chúa” có phép thuật siêu nhiên, có trí tưởng bở ngông cuồng và sự tự tin mù lòa giống như Na - Va vậy(?) Chỉ có một điều chắc chắn là, vì sự kiêu hãnh không chịu khuất phục trước cái ác của một dân tộc anh hùng; vì nền độc lập có truyền thống 4000 năm lịch sử; vì sự ấm no hạnh phúc và tiến bộ của mấy chục triệu con người…; quân dân ta đã phải đánh đổi hàng vạn giờ tác chiến, hàng vạn tấn lương thực, hàng vạn cuộc hành quân của hàng vạn con người và; hơn 1 vạn 4 dân sỹ, chiến sỹ… vĩnh viễn ngã xuống để đổi lấy sự biến mất của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cùng với trên 4000 xác địch… Từ đó đến nay, bất cứ người Việt Nam nào cũng có quyền ngẩng cao đầu vì một Điện Biên hùng tráng. Hai chữ lịch sử ở đó không chỉ là khái niệm nhắc nhớ thông thường về một quá trình phát sinh, phát triển hay tiêu vong của một sự kiện, mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng như một hiện tượng chiến tranh, một sứ mạng cứu quốc, một bước ngoặt đối ngoại… của một cường Quốc ý chí, tinh thần, nhân văn và nhân đạo. Tất cả người Việt Nam luôn ngẩng cao đầu kiêu hãnh ngay tại Điện Biên, ngay ở Việt Nam hay đang đứng trên bất kỳ lãnh thổ, quốc gia nào trên Thế giới!
            Trong kỳ tích lịch sử chiến tranh của nhân loại ấy, có một con người bé nhỏ, luôn bị lẫn khuất trong rừng người Điện Biên, rừng người miền Bắc và rừng người cả nước khi rầm rập đổ về chiến đấu, giải phóng, mừng công và tận hưởng hòa bình. Công lao và thành tích, có thể chỉ như điều ước: giá mình là một viên đạn, dù sức hủy diệt chỉ một cánh tay, thậm chí là ngón tay điểm hỏa của kẻ thù, nhưng được dũng mãnh lao đi, trúng đích, và rồi biến mất. Thế thôi! Người ấy, đúng hơn là ông già 86 tuổi người dân tộc Thái ấy, đang ốm lắm, nhưng trước khi ốm uất già nua, ông đã cực khỏe, đã cống hiến, hy sinh và bật khóc. Ngại ngần trước sự kiên trì chờ đợi cuộc hồi niệm xa xăm của chúng tôi, vợ ông lay mãi. Bà đã từng xin chúng tôi mấy chục ngàn để thuốc thang cho ông. Nhưng bà chưa từng đề nghị những vị khách lạ, không mời, ở lại cùng chồng bà nhâm nhi đọt măng đắng nướng, uống bát canh rau sắng ngọt lừ và cạn chén lẩu sơ như nhốt cả đêm Mường Phăng hào hùng và bi tráng vào đáy chén như cái hiếu khách vốn có của dân tộc bà. Các món đặc sản bản địa như ế méo ế mó trước bà và ông chồng luôn thương từng cọng cỏ, từng chiếc lá vàng rơi vô cớ xuống dòng suối Phăng trong như dòng… nước mắt.
            Con trai ông là Bí thư Đảng ủy xã Mường Phăng Lò Văn Biên đi công tác vắng. Căn nhà sàn truyền thống giữa bản Bua chìm trong áng chiều thăm thẳm. Ông già Lò Văn Bóng heo hắt quá. Kể từ 2004, khi ông còn là nhân vật chính trong phóng sự Nước mắt rừng Mường Phăng mà chúng tôi dày công theo đuổi, thì ông “xuống địa” nhiều. Tiếng thở đã nặng như tiếng xe kéo quệt, người miền núi làm giống cái khung xe bò, trâu cứ thế è cổ ra kéo đi không bánh. Bên nhà hàng xóm, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sạp, tiếng xòe tưng bừng cả “thung lũng duyệt binh”. Người ta đang mừng ngôi nhà gỗ mới. Bà Bóng nói, họ có sang mời nhưng ông ốm không đi được. Thực ra, từ ngày ông làm cán bộ bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch (1954) đến nay, ông có đi dự nhà mới bao giờ đâu. Ngoài đường bản, mấy ông già tuổi bác, tuổi chú đang thả đời mình dặt dẹo theo bước chân vắt sổ một cách sung sướng từ ngôi nhà mới mà ra; thi thoảng buông một tràng cười phớt đời, rồi lại cất lên một câu Thái ngữ ca hạnh phúc. Bất chợt, trong bóng tối lờ nhờ sau tấm ri đô thổ cẩm, hai hàng nước mắt lăn ra khuân mặt nhằng nhịt vết thời gian như những nhát nẻ trên nền đất hạn. Gặp khe, rãnh dòng nước mắt mong manh hạn bé từ từ thấm ngược vào trong. Một lần nữa, ông già khóc cho những cây gỗ quý trong rừng Đại tướng bị chết thành xà, thành cột!
            Năm 1943, ông Bóng mới 11 tuổi, không hiểu gì nhiều, ông chỉ biết người ta truyền miệng nhau vài câu nói: “Đi sống”; “Đi tự do”; “Đi làm người”… bởi ở nơi cũ, (Thôm Mòn - Thuận Châu - Sơn La; cách Điện Biên 131km) đất thiếu người thừa, và thừa nhất vẫn là Tạo, là Phìa… Các khoản nộp thuế, phu phen, tạp dịch hai thì sức lực trai mộng chỉ làm nổi một. Vậy là đi Mường Phăng, thở chẳng bị ai kẹp, ăn chẳng bị ai chẹt, cái chân, lời nói, tiếng hát… khỏe bằng nào thể hiện hết bằng ấy. Nhưng rồi, cái dễ thở cũng chẳng được bao lâu. Vài tuần, thằng Pháp lại mò vào “tắc bọp” một lần, và mỗi lần mất đi bao nhiêu lợn, gà, trâu, bò, ngựa và… con gái. Thanh niên bị bắt phu, bắt lính. Người già, trẻ con phải làm lòi xương sống để đóng thuế. Tháng 12.1952, ông Bóng tham gia vào lực lượng công an xã, giải phóng Điện Biên lần thứ nhất. Chưa đầy năm sau, khi mà các đơn vị bộ đội chủ lực rút về xuôi, giặc Pháp nhảy dù chiếm lại Điện Biên. Thở, ăn, nói, hát, đi… lại bị mất tiền, mất của. Ông Bóng được cử sang làm xã đội trưởng để bảo vệ con trâu, con bò và con trai, con gái.
            Trung tuần 1.1954, xã đội Mường Phăng nhận được nhiệm vụ bảo vệ khu rừng bộ đội rộng hơn 200 ha. Bộ đội ở đâu nhiều thế. Súng ống, đại bác, cả xe đạp và gạo nữa. Có người xui ông Bóng xin mấy khẩu súng về để bảo vệ trâu, nhưng ông thấm nhuần mật lệnh bí mật, không gây nổ, cháy để địch chú ý. Với lại, ông cũng được ủy ban Hành chính kháng chiến phát cho 2 quả lựu đạn, mà ông ngầm “phân công” ông một, địch một. Tất cả người dân được làm hiểu bộ đội về cái thở, cái ăn, cái nói, cái hát, cái đi… lại vô tư. Thế rồi, chỉ trong một đêm, trên đỉnh Pú Huốt mọc lên một cây xanh lừng lững. Ngọn núi mà ông dịch là Rá Vo Gạo. Chặn một cậu bé đeo túi thổ cẩm, trong có vài quyển sách lớp một (có lẽ là học trò), đang loẹt soẹt đôi giép sứt trên con đường bê tông len lỏi trong rừng di tích, thì cậu ta bảo đấy là Núi Sừng Trời (quả nó giống chiếc sừng, nhọn và cao nhất Mường Phăng). Cái cây ấy xanh đến chiều thì úa vàng, nhưng đêm sau xanh ngắt lại. Mãi khi giải phóng (7.5.1954), ông Bóng trèo nửa ngày lên mới biết đấy là đài quan sát chiến dịch. Từ đây, cán bộ trực đài nhìn thấy gì ở Tây - Bắc lòng chảo Mường Thanh (nay là tp Điện Biên Phủ) thì báo xuống núi. Bây giờ, trên ấy chỉ có 3 chiếc cọc bê tông cao chừng 1 m, có lẽ làm nhiệm vụ ghi nhớ chứ không phải là một chiếc chòi canh, tạo cho du khách cảm giác được phóng tầm mắt “chiến lược” ra cánh đồng Mường Thanh và hình dung những trận chiến dữ dội, ta và địch giành nhau từng mét đất, từng đoạn hào bị đạn bom nung chín như bột gạch. Sau giải phóng ông Bóng cũng mới biết ông vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tối trọng thông qua những căn hầm xuyên thủng núi, những lán giao ban, nhà hậu cần, tác chiến… ẩn kín dưới tán cây Kang, cây phặng, cây khẻ mu… đại thụ. Trước khi bộ đội rút đi, có một đồng chí cán bộ cấp đại đội vỗ vai ông: “Anh ở lại cố giữ nguyên mọi thứ cho nhân dân, cho Nhà nước”. Vậy là ông Bóng “tuân lệnh” ấy tới 50 năm trời.
            Một năm sau giải phóng, ông Bóng được bầu giữ chức chủ tịch UBND xã Mường Phăng. Năm năm sau, ông chuyển sang giữ chức Bí thư Đảng ủy xã, đến 1978 thì về hưu. Trong suốt quãng thời gian đương chức, ông lặng lẽ thực hiện tâm nguyện của người lính năm xưa, cũng bằng thân thủ lặng lẽ không kém là xách dao đi vào rừng. Thế nhưng có một điều bình thường như đếm ngón tay là, còn làm lãnh đạo còn nghe răm rắp. Nghỉ rồi, cái láo toét mới được bọn đếch cần nguồn thò ra tắp lự. Chúng chửi. Hầm đã sập, lán đã mục, người đã đi đến mất mặt, mất tên. Ông giữ làm gì? Ai khiến? Quyền đâu? Ông nói quyền ông là quyền một công dân. Chúng bảo ngu. ừ ngu mà rừng còn, di tích còn thì ngu cũng đành. Chúng bảo điên. Điên để con cháu sau này biết cuộc sống chúng nó, sự giàu có, hòa bình và hạnh phúc là do các liệt sỹ cho, thì điên cũng tốt… Dù sao mình còn được sống, được nhìn non nước tươi đẹp, đang tươi đẹp thêm từng ngày. Còn các liệt sỹ họ được cái gì ngoài mấy mét vuông đất? Vậy nên, ông thoải mái từ chối tới 3 lần, tỉnh gọi đi làm cán bộ (Cty dược; Tòa án; BQL hồ Pá Khoang) để ngày ngày, mặc xác những kẻ nhức mắt ngứa tai, mặc kệ luôn cả cái đói, cái rét của vợ con để đi bảo vệ rừng di tích. Ông bảo Sở chỉ huy chiến dịch là “đặc sản” của Mường Phăng, của Điện Biên và của Việt Nam . Rồi một ngày nào đó, khi người ta giàu có người ta sẽ đến Điện Biên, sẽ đến Mường Phăng. Mà chỉ có Mường Phăng mới có rừng Đại tướng, mới có chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Chẳng lẽ họ chế biến một Mường Phăng khác ở Hà Nội, ở Sài Gòn…(?) Mà nếu có thế thì ông vẫn làm. Làm để sau này gặp lại anh Giáp, gặp lại người sỹ quan năm xưa ở một nơi nào đó “cái mồm sẽ không ngượng nói”. Lý người Thái đấy!

***
            Ông vẫn nằm, còn chúng tôi thì ngồi đấy nhìn ông, và nhìn thấy cả cuộc phỏng vẫn ông năm 2 ngàn lẻ 4. Ông Bóng đang ngậm ngùi kể về cuộc chiến không cân sức giữa ông với cả một hệ thống làm thịt rừng Đại tướng: “Dân không phục thì tôi ra huyện, ra bảo tàng chiến thắng Điện Biên, ra tỉnh xin một chức danh để còn danh chính ngôn thuận với cái đám giặc rừng kia”. Và ông đi miết năm, cuối cùng cũng được chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu (cũ) Lò Văn Hặc giao việc, với một lời động viên hy hữu: “Bác cố giữ gìn cho tỉnh. Hiện tỉnh rất khó khăn, không có tiền trả cho bác đâu”. Thế thôi, ông cũng chỉ cần có thế thôi. Tư cách pháp nhân mà lại. Ông Bóng đã từng có câu nói, chúng tôi cho là tuyệt ngôn: “Thù lao bảo vệ di tích chính là trách nhiệm đảng viên của tôi”. Thế nhưng cái trách nhiệm đảng viên thiêng liêng mà đơn độc ấy không thắng nổi một “tập đoàn” tham lam, dối lừa và cơ hội. Càng những người làm to, trách nhiệm nhiều thì phá rừng càng nhiều. Ông hạt trưởng kiểm lâm Cao Xuyên kìn kìn mỗi năm ăn cả chục m3 gỗ, chưa kể đoàn đồ thuê thợ đóng sẵn. Hay, kiếm cớ UBND huyện Điện Biên có công văn số 290 (30.8.2001): “... cho phép tận dụng những cây gỗ chết ở rừng Mường Phăng để làm bàn ghế, làm trường, trạm...”  là lập tức, hàng chục cây gỗ quí bị chết hợp pháp bằng cách khoanh vỏ, cắt mạch... Đến khi cán bộ kiểm lâm Trịnh Xuân Ninh bị bắt quả tang, hiệu lực công văn mới được dừng lại. Cuối 2003, ông Bóng trình lên xã, đề nghị xử lý 73 hộ dân đốt rừng làm nương, và 3 hộ lén lút khai thác tổng cộng 16 cây gỗ với một nếp nhà sàn hoàn chỉnh (20m3). Sang đầu 2004 – năm du lịch Điện Biên Phủ, bắt quả tang Giám đốc khách sạn Pa Khoang Nguyễn Văn Kỷ cầm đầu một bọn lâm tặc chặt 38 cây gỗ ở eo 500. Rồi phản kháng quyết liệt ông giám đốc bảo tàng tỉnh làm tờ trình xin gỗ Mường Phăng để làm nhà sàn vv và vv… Ông Bóng lúc ấy nói như xả vào mặt chúng tôi: “Anh quyết được không, theo tôi không giao rừng cho dân quản lý bảo vệ nữa, vì như thế là giao cho họ quyền phá hợp pháp. Di ngay những hộ dân ở bản Phăng ra khỏi khu vực di tích. Hôm nay chỉ là cái nền nhà, ngày mai thêm mảnh vườn, cái ao, miếng ruộng. Lấy lại rừng của kiểm lâm giao lại cho lâm trường đi, họ phá nhưng họ còn trồng. Phải đi xem những ngôi nhà gỗ quý sơn toa, cầu kỳ, lộng lẫy và bóng loáng như được gạ giả vờ một lớp vàng chóa mắt, có trị giá bằng cả căn biệt thự 4 - 5 tầng ở thị trấn huyện, ở thành phố mới thấy rừng đau như thế nào…”
            Năm 1984, Đại tướng Hoàng Văn Thái lên thăm Mường Phăng, biết chuyện ông Bóng,  Đại tướng ôm ghì người đồng đội từng bảo vệ mình, bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch mà giờ mới gặp mặt, vừa khóc vừa nói: “Anh Bóng ơi, anh đúng rồi. Mường Phăng là của cả nước đấy, anh cố giữ lấy nhé”. Bữa ấy, xã mổ một con lợn 50kg tại nhà ông Bóng để tiếp Đại tướng, nhưng “anh Thái” không ăn mà chỉ xin ông một bát cháo. Đại tướng bật khóc vì không hiểu sao người ta chỉ xây dựng, tôn tạo và bảo vệ một cách cẩn thận “di sản chém giết” của phía bên kia (hầm Đờ - cát, đồi A1…); còn kỳ tích của nhân dân và chiến sỹ ta, mà bản thân nó cho thấy tầm cỡ Quốc tế về khả năng quân sự, thì lại bỏ rơi(?) Sau khi Đại tướng Hoàng Văn Thái về được non tháng, một đơn vị bộ đội vào sửa lại cửa hầm và phát dọn đường biên bảo vệ. Từ đó, ông Bóng cùng với 6 người nữa trong tổ hưu Mường Phăng chính thức được lập thành tổ bảo vệ di tích do ông làm tổ trưởng và, được hưởng lương là 15 ngàn, chia đều cho 7 người/tháng, do bảo tàng tỉnh chi trả. Có tí chè thuốc, ông nói lý với vợ con rằng ông đã đúng. Nhiệm vụ của ông đã hết vu vơ, mờ mịt. Dịp kỷ niệm 40 năm (1994), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng lên thăm Mường Phăng. Cảm kích trước tấm lòng ông Bóng, đích thân Đại tướng mời ông về Hà Nội, an dưỡng 15 ngày tại nhà nghỉ Bộ quốc phòng, có riêng một đại úy bảo vệ. Thấy thế, nhiều người Hà Nội tưởng ông là một vị tướng lừng danh nào đó, khi được ông cho biết ông chỉ là một nông dân người Thái ở Điện Biên, trong họ lại đầy ắp thắc mắc về mối quan hệ bí ẩn giữa ông và Đại tướng. Ông kể, về Hà Nội anh Văn chiều lắm, cho đi thăm lăng Bác, bảo tàng Hồ Chí Minh, hồ gươm, vườn thú… nhưng buồn và nhớ rừng lắm. Đêm ông thường mơ thấy tiếng cây đổ, tỉnh dậy thì ra tiếng ô tô chạy thông đêm. Ông cũng vinh dự được Đại tướng mời đến thăm nhà bốn lần, ở lại ăn cơm một bữa. Những ngày chơi Hà Nội, Đại tướng dặn đồng chí đại úy đưa ông Bóng đi bất cứ nơi nào, mua bất cứ thứ gì ông thích, nhưng ông Bóng chỉ xin cái xoong quân dụng để nấu rượu sắn. Mãi gần ngày về ông mới chịu để mua thêm chiếc xe đạp, vừa làm vui lòng anh Văn, vừa  dùng đi 1,5 km từ nhà ông vào khu di tích đuổi bọn phá rừng…

***
            Ông Bóng vẫn nằm thiêm thiếp như thanh dầm sàn ở giữa nhà. Chiều tô vào ông nét nhạt nhòa, nhợ nhọ. Chuyện “thường ngày ở bản” được nhắc nhiều nhất có lẽ là chuyện thiệt thòi của ông Bóng. Về đồng lương, từ lúc thù lao chỉ là trách nhiệm đảng viên tận 24 năm sau mới được danh chính công nhận, thể hiện bằng việc hằng tháng 7 con người vinh dự lĩnh 15 rồi 70 ngàn; và năm 2004 là 550 ngàn/người/tháng, thì ông Bóng nghỉ! Nửa thế kỷ “cải tạo một quan niệm” của ông Bóng, nhân kỷ niệm 50 năm tổng quần thể di tích Điện Biên Phủ được đầu tư 260/262 tỷ đồng, với hầm bê tông giả đất, nhà bê tông giả tre, cầu bê tông giả gỗ… chẳng ai phá được, đốt được. Khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm ngày càng đông, dân “làm ăn” hẳn lên không nói, tiền vé xe, tiền vé người… ngày càng nhiều phần trăm, thì ông Bóng nghỉ! Ông nghỉ vì ông đã có 50 năm dốc cạn sức lực. Ông nghỉ vì ông đã bước sang tuổi 82. Ông nghỉ là nghỉ cho khỏe chứ không có căn nguyên chướng tai gai mắt… Suốt 50 năm trời ông đi canh rừng, cái duy nhất ông được là cả nước biết đến ông như một công cụ phụ ích cho di tích lịch sử “độc nhất vô nhị” ở Điện Biên. Cái được thứ hai, để ông tự bình chọn thì chính là sự biến mất của ba con trâu do kẻ gian ghen ghét hãm hại khi ông còn thức cho rừng ngủ. Nhưng ông không buồn và cũng không ngại, ông bảo làm cách mạng mà không đấu tranh thì còn gì nữa…
            Nói gì với ông bây giờ. Khi mà chiều trời đã rơi xuống núi. Khi mà chiều ông đã lặng lẽ thở dài. Khi mà chúng tôi còn phải đi xa, và bắt đầu lại từ đầu những cuộc tìm kiếm cho ra những người như ông trên cõi đời này. Khi mà trong cơn mơ, ông thường thấy rõ mồn một những cánh rừng xa vài chục cây số, giáp xã Pú Nhi, giáp xã Phì Nhừ (huyện Điện Biên Đông), và hoài nhớ: “Họ thấy mình già, họ không sợ. Chẳng chức trách gì, lập biên bản họ không ký, đuổi thì họ chạy, tuổi già theo không kịp. Xót ruột nhưng rừng xa, đi lại khó lắm, không ngủ ở đấy được...” Chúng tôi muốn nói với khoảng lặng quanh ông, đúng ra là trả lời câu hỏi của ông về rừng di tích (đã từ tết nguyên đán Đinh Hợi - 2007 ông chưa ra khỏi giường), rằng ông hãy cứ tin vào đức tin, tin vào một cộng đồng ý thức, trách nhiệm, tiến bộ và hội nhập. Chẳng biết ông có nghe ra sự an ủi vụng về ấy không mà trên hai khóe mắt, hai giọt châu gầy bất chợt lăn ra, rồi lại cạn đi trên hai gò nhan nứt nẻ! Ông khóc cho sự mãn nguyện quan điểm, khóc cho thành quả hy sinh, khóc cho các bạn, khóc cho chúng tôi - những người được hưởng chọn niềm vui ngày mai; mà chúng tôi thì chưa hề một lần khóc cho ông, vẫn biết có thể sẽ không còn dịp nào hội ngộ…

Mường Phăng, xuân Mậu Tý

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét