Khuya.
Chiếc máy tính nóng tính, “treo” như cột cổ chữ nghĩa lên xà nhà. Ngả cái cảm
hứng ra tựa ghế. Đêm đông Tây Bắc đổ nước đá vào trong quần áo. Thị trấn nhỏ
hôm nay lạ, thanh niên biến đâu chẳng quấy nhiễu gì. Bỗng chuông điện thoại như
vạng thông điệp cấp cứu vào đêm. Bà chủ làu bàu sau cú thót người. Bên kia,
giọng bạn văn giục thúc: “Nhân vật của ông liệt giường rồi đấy!”.
Ngay trong đêm, chiếc xe Win 110 nổi
tiếng bất chấp vẫn không sao lướt lên lớp bùn dày như đáy đầm, phủ khắp 40km
trên QL 279 vào thành phố Điện Biên Phủ. Đã hơn 2 năm, dự án nâng cấp, cải tạo
con đường xuyên Tây Bắc vẫn trong giai đoạn hoàn thiện, nên đi lại hết sức thận
trọng. Lộ trình tôi, qua con đèo Tằng Quái - nơi đã xảy ra vài vụ tai nạn, mấy
người chết do đường đất ngổn ngang. Thương tâm nhất là hai nữ học sinh trung
học phổ thông trong thành phố, đã bị đè chết (27.3.2007) khi đèo nhau túc tắc
núp đằng sau chiếc xe tải suốt hơn 30km từ Điện Biên ra để trốn… công an, khi
chiếc xe này lỡ đà, tụt ngược. Từ thành phố, theo con đường “vàng” 28 km Điện
Biên - Mường Phăng, mặc dù nền đường hạn hẹp, chất lượng tầm tầm nhưng lại vất
vả vác một nhiệm vụ hết sức nặng nề, là tận dụng triệt để các cuốc du lịch ta,
Tây hay bất cứ một sự xuất hiện nào khác tới Mường Phăng - một trong những “tập đoàn” di tích
lịch sử ở Điện Biên Phủ.
Tháng 5 Điện Biên vốn làm không ít
người rơi nước mắt vì mất mát sót đau, vì chiến thắng và vì hạnh phúc. Như mới
hôm qua thôi, tiếng súng rền và tiếng sụp đổ hệ thống “Pháo đài bất khả xâm
phạm” và “Binh đoàn tác chiến Tây Bắc”, gọi tắt là G.O.N.O
(Grou-pemenut Opé rationnet du Nord - Ouest.) niềm hy vọng bá vương của thực
dân Pháp. Pháo đài bất khả xâm phạm là một tập đoàn gồm 49 cứ điểm, thiết kế và
xây dựng theo phương thức phòng thủ tập đoàn mặt đất, hiện đại nhất Đông Dương,
nhất Châu á và thậm chí là chưa áp dụng ở đâu trên Thế giới. Tất cả đều là sản
phẩm được sinh ra nhờ óc quan giả tưởng và niềm hy vọng kim cương của ngài
chiến lược gia quân đội viễn chinh Pháp, tướng Na - Va mà ta được biết qua Kế
hoạch Na - Va “rung động” giới quân sự toàn cầu. Điện Biên có nguy cơ trở thành
chiếc chìa khóa vạn năng, mở cánh cửa thôn tính Tây Bắc, tiếp đó là 3 nước Đông
Dương; và cuối cùng là cả vùng Đông Nam á. Để vạch ra được cái kế hoạch viễn
tưởng đầy ắp ma lực thôi miên ấy, Na - Va chỉ cần có vị thế và uy tín của chính
mình trên chiến trường Đông Dương. Nhưng có lẽ để hiện thực kế hoạch ấy, Na
- Va không những phải cần
có sự ủng hộ của toàn quốc gia đại Pháp, mà cả đế quốc Mĩ, khối đồng minh và…
một vị “Chúa” có phép thuật siêu nhiên, có trí tưởng bở ngông cuồng và sự tự tin
mù lòa giống như Na - Va vậy(?) Chỉ có một điều chắc chắn là, vì sự kiêu hãnh
không chịu khuất phục trước cái ác của một dân tộc anh hùng; vì nền độc lập có
truyền thống 4000 năm lịch sử; vì sự ấm no hạnh phúc và tiến bộ của mấy chục
triệu con người…; quân dân ta đã phải đánh đổi hàng vạn giờ tác chiến, hàng vạn
tấn lương thực, hàng vạn cuộc hành quân của hàng vạn con người và; hơn 1 vạn 4
dân sỹ, chiến sỹ… vĩnh viễn ngã xuống để đổi lấy sự biến mất của tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ cùng với trên 4000 xác địch… Từ đó đến nay, bất cứ người
Việt Nam
nào cũng có quyền ngẩng cao đầu vì một Điện Biên hùng tráng. Hai chữ lịch sử ở
đó không chỉ là khái niệm nhắc nhớ thông thường về một quá trình phát sinh,
phát triển hay tiêu vong của một sự kiện, mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
như một hiện tượng chiến tranh, một sứ mạng cứu quốc, một bước ngoặt đối ngoại…
của một cường Quốc ý chí, tinh thần, nhân văn và nhân đạo. Tất cả người Việt Nam luôn ngẩng cao đầu kiêu hãnh ngay tại Điện
Biên, ngay ở Việt Nam
hay đang đứng trên bất kỳ lãnh thổ, quốc gia nào trên Thế giới!
Trong kỳ tích lịch sử chiến tranh của
nhân loại ấy, có một con người bé nhỏ, luôn bị lẫn khuất trong rừng người Điện
Biên, rừng người miền Bắc và rừng người cả nước khi rầm rập đổ về chiến đấu,
giải phóng, mừng công và tận hưởng hòa bình. Công lao và thành tích, có thể chỉ
như điều ước: giá mình là một viên đạn, dù sức hủy diệt chỉ một cánh tay, thậm
chí là ngón tay điểm hỏa của kẻ thù, nhưng được dũng mãnh lao đi, trúng đích,
và rồi biến mất. Thế thôi! Người ấy, đúng hơn là ông già 86 tuổi người dân tộc
Thái ấy, đang ốm lắm, nhưng trước khi ốm uất già nua, ông đã cực khỏe, đã cống
hiến, hy sinh và bật khóc. Ngại ngần trước sự kiên trì chờ đợi cuộc hồi niệm xa
xăm của chúng tôi, vợ ông lay mãi. Bà đã từng xin chúng tôi mấy chục ngàn để
thuốc thang cho ông. Nhưng bà chưa từng đề nghị những vị khách lạ, không mời, ở
lại cùng chồng bà nhâm nhi đọt măng đắng nướng, uống bát canh rau sắng ngọt lừ
và cạn chén lẩu sơ như nhốt cả đêm Mường Phăng hào hùng và bi tráng vào đáy
chén như cái hiếu khách vốn có của dân tộc bà. Các món đặc sản bản địa như ế
méo ế mó trước bà và ông chồng luôn thương từng cọng cỏ, từng chiếc lá vàng rơi
vô cớ xuống dòng suối Phăng trong như dòng… nước mắt.
Con trai ông là Bí thư Đảng ủy xã
Mường Phăng Lò Văn Biên đi công tác vắng. Căn nhà sàn truyền thống giữa bản Bua
chìm trong áng chiều thăm thẳm. Ông già Lò Văn Bóng heo hắt quá. Kể từ 2004,
khi ông còn là nhân vật chính trong phóng sự Nước
mắt rừng Mường Phăng mà chúng
tôi dày công theo đuổi, thì ông “xuống địa” nhiều. Tiếng thở đã nặng như tiếng
xe kéo quệt, người miền núi làm giống cái khung xe bò, trâu cứ thế è cổ ra kéo
đi không bánh. Bên nhà hàng xóm, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sạp, tiếng
xòe tưng bừng cả “thung lũng duyệt binh”. Người ta đang mừng ngôi nhà gỗ mới.
Bà Bóng nói, họ có sang mời nhưng ông ốm không đi được. Thực ra, từ ngày ông
làm cán bộ bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch (1954) đến nay, ông có đi dự nhà mới
bao giờ đâu. Ngoài đường bản, mấy ông già tuổi bác, tuổi chú đang thả đời mình
dặt dẹo theo bước chân vắt sổ một cách sung sướng từ ngôi nhà mới mà ra; thi
thoảng buông một tràng cười phớt đời, rồi lại cất lên một câu Thái ngữ ca hạnh
phúc. Bất chợt, trong bóng tối lờ nhờ sau tấm ri đô thổ cẩm, hai hàng nước mắt
lăn ra khuân mặt nhằng nhịt vết thời gian như những nhát nẻ trên nền đất hạn.
Gặp khe, rãnh dòng nước mắt mong manh hạn bé từ từ thấm ngược vào trong. Một
lần nữa, ông già khóc cho những cây gỗ quý trong rừng Đại tướng bị chết thành xà,
thành cột!
Năm 1943, ông Bóng mới 11 tuổi, không
hiểu gì nhiều, ông chỉ biết người ta truyền miệng nhau vài câu nói: “Đi sống”;
“Đi tự do”; “Đi làm người”… bởi ở nơi cũ, (Thôm Mòn - Thuận Châu - Sơn La; cách
Điện Biên 131km) đất thiếu người thừa, và thừa nhất vẫn là Tạo, là Phìa… Các
khoản nộp thuế, phu phen, tạp dịch hai thì sức lực trai mộng chỉ làm nổi một. Vậy là đi Mường
Phăng, thở chẳng bị ai kẹp, ăn chẳng bị ai chẹt, cái chân, lời nói, tiếng hát…
khỏe bằng nào thể hiện hết bằng ấy. Nhưng rồi, cái dễ thở cũng chẳng được bao
lâu. Vài tuần, thằng Pháp lại mò vào “tắc bọp” một lần, và mỗi lần mất đi bao
nhiêu lợn, gà, trâu, bò, ngựa và… con gái. Thanh niên bị bắt phu, bắt lính.
Người già, trẻ con phải làm lòi xương sống để đóng thuế. Tháng 12.1952, ông
Bóng tham gia vào lực lượng công an xã, giải phóng Điện Biên lần thứ nhất. Chưa
đầy năm sau, khi mà các đơn vị bộ đội chủ lực rút về xuôi, giặc Pháp nhảy dù
chiếm lại Điện Biên. Thở, ăn, nói, hát, đi… lại bị mất tiền, mất của. Ông Bóng
được cử sang làm xã đội trưởng để bảo vệ con trâu, con bò và con trai, con gái.
Trung tuần 1.1954, xã đội Mường Phăng
nhận được nhiệm vụ bảo vệ khu rừng
bộ đội rộng hơn 200 ha. Bộ
đội ở đâu nhiều thế. Súng ống, đại bác, cả xe đạp và gạo nữa. Có người xui ông
Bóng xin mấy khẩu súng về để bảo vệ trâu, nhưng ông thấm nhuần mật lệnh bí mật,
không gây nổ, cháy để địch chú ý. Với lại, ông cũng được ủy ban Hành chính
kháng chiến phát cho 2 quả lựu đạn, mà ông ngầm “phân công” ông một, địch một.
Tất cả người dân được làm hiểu bộ đội về cái thở, cái ăn, cái nói, cái hát, cái
đi… lại vô tư. Thế rồi, chỉ trong một đêm, trên đỉnh Pú Huốt mọc lên một cây
xanh lừng lững. Ngọn núi mà ông dịch là Rá Vo Gạo. Chặn một cậu bé đeo túi thổ
cẩm, trong có vài quyển sách lớp một (có lẽ là học trò), đang loẹt soẹt đôi
giép sứt trên con đường bê tông len lỏi trong rừng di tích, thì cậu ta bảo đấy
là Núi Sừng Trời (quả nó giống chiếc sừng, nhọn và cao nhất Mường Phăng). Cái
cây ấy xanh đến chiều thì úa vàng, nhưng đêm sau xanh ngắt lại. Mãi khi giải
phóng (7.5.1954), ông Bóng trèo nửa ngày lên mới biết đấy là đài quan sát chiến
dịch. Từ đây, cán bộ trực đài nhìn thấy gì ở Tây - Bắc lòng chảo Mường Thanh
(nay là tp Điện Biên Phủ) thì báo xuống núi. Bây giờ, trên ấy chỉ có 3 chiếc cọc
bê tông cao chừng 1 m, có lẽ làm nhiệm vụ ghi nhớ chứ không phải là một chiếc
chòi canh, tạo cho du khách cảm giác được phóng tầm mắt “chiến lược” ra cánh
đồng Mường Thanh và hình dung những trận chiến dữ dội, ta và địch giành nhau
từng mét đất, từng đoạn hào bị đạn bom nung chín như bột gạch. Sau giải phóng
ông Bóng cũng mới biết ông vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tối trọng thông qua
những căn hầm xuyên thủng núi, những lán giao ban, nhà hậu cần, tác chiến… ẩn
kín dưới tán cây Kang, cây phặng, cây khẻ mu… đại thụ. Trước khi bộ đội rút đi,
có một đồng chí cán bộ cấp đại đội vỗ vai ông: “Anh ở lại cố giữ nguyên mọi thứ
cho nhân dân, cho Nhà nước”. Vậy là ông Bóng “tuân lệnh” ấy tới 50 năm trời.
Một năm sau giải phóng, ông Bóng được
bầu giữ chức chủ tịch UBND xã Mường Phăng. Năm năm sau, ông chuyển sang giữ
chức Bí thư Đảng ủy xã, đến 1978 thì về hưu. Trong suốt quãng thời gian đương
chức, ông lặng lẽ thực hiện tâm nguyện của người lính năm xưa, cũng bằng thân
thủ lặng lẽ không kém là xách dao đi vào rừng. Thế nhưng có một điều bình
thường như đếm ngón tay là, còn làm lãnh đạo còn nghe răm rắp. Nghỉ rồi, cái
láo toét mới được bọn đếch cần nguồn thò ra tắp lự. Chúng chửi. Hầm đã sập, lán
đã mục, người đã đi đến mất mặt, mất tên. Ông giữ làm gì? Ai khiến? Quyền đâu?
Ông nói quyền ông là quyền một công dân. Chúng bảo ngu. ừ ngu mà rừng còn, di
tích còn thì ngu cũng đành. Chúng bảo điên. Điên để con cháu sau này biết cuộc
sống chúng nó, sự giàu có, hòa bình và hạnh phúc là do các liệt sỹ cho, thì điên
cũng tốt… Dù sao mình còn được sống, được nhìn non nước tươi đẹp, đang tươi đẹp
thêm từng ngày. Còn các liệt sỹ họ được cái gì ngoài mấy mét vuông đất? Vậy
nên, ông thoải mái từ chối tới 3 lần, tỉnh gọi đi làm cán bộ (Cty dược; Tòa án;
BQL hồ Pá Khoang) để ngày ngày, mặc xác những kẻ nhức mắt ngứa tai, mặc kệ luôn
cả cái đói, cái rét của vợ con để đi bảo vệ rừng di tích. Ông bảo Sở chỉ huy
chiến dịch là “đặc sản” của Mường Phăng, của Điện Biên và của Việt Nam . Rồi một
ngày nào đó, khi người ta giàu có người ta sẽ đến Điện Biên, sẽ đến Mường
Phăng. Mà chỉ có Mường Phăng mới có rừng Đại tướng, mới có chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ. Chẳng lẽ họ chế biến một Mường Phăng khác ở Hà Nội, ở Sài
Gòn…(?) Mà nếu có thế thì ông vẫn làm. Làm để sau này gặp lại anh Giáp, gặp lại
người sỹ quan năm xưa ở một nơi nào đó “cái mồm sẽ không ngượng nói”. Lý người
Thái đấy!
***
Ông vẫn nằm, còn chúng tôi thì ngồi
đấy nhìn ông, và nhìn thấy cả cuộc phỏng vẫn ông năm 2 ngàn lẻ 4. Ông Bóng đang
ngậm ngùi kể về cuộc chiến không cân sức giữa ông với cả một hệ thống làm thịt
rừng Đại tướng: “Dân không phục thì tôi ra huyện, ra bảo tàng chiến thắng Điện
Biên, ra tỉnh xin một chức danh để còn danh chính ngôn thuận với cái đám giặc
rừng kia”. Và ông đi miết năm, cuối cùng cũng được chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu
(cũ) Lò Văn Hặc giao việc, với một lời động viên hy hữu: “Bác cố giữ gìn cho
tỉnh. Hiện tỉnh rất khó khăn, không có tiền trả cho bác đâu”. Thế thôi, ông
cũng chỉ cần có thế thôi. Tư cách pháp nhân mà lại. Ông Bóng đã từng có câu
nói, chúng tôi cho là tuyệt ngôn: “Thù lao bảo vệ di tích chính là trách nhiệm
đảng viên của tôi”. Thế nhưng cái trách nhiệm đảng viên thiêng liêng mà đơn độc
ấy không thắng nổi một “tập đoàn” tham lam, dối lừa và cơ hội. Càng những người
làm to, trách nhiệm nhiều thì phá rừng càng nhiều. Ông hạt trưởng kiểm lâm Cao
Xuyên kìn kìn mỗi năm ăn cả chục m3 gỗ, chưa kể đoàn đồ thuê thợ đóng sẵn.
Hay, kiếm cớ UBND huyện Điện Biên có công văn số 290 (30.8.2001): “... cho phép tận dụng những cây gỗ chết
ở rừng Mường Phăng để làm bàn ghế, làm trường, trạm...” là lập tức, hàng chục cây gỗ quí bị
chết hợp pháp bằng cách khoanh vỏ, cắt mạch... Đến khi cán bộ kiểm lâm Trịnh
Xuân Ninh bị bắt quả tang, hiệu lực công văn mới được dừng lại. Cuối 2003, ông
Bóng trình lên xã, đề nghị xử lý 73 hộ dân đốt rừng làm nương, và 3 hộ lén lút
khai thác tổng cộng 16 cây gỗ với một nếp nhà sàn hoàn chỉnh (20m3).
Sang đầu 2004 – năm du lịch Điện Biên Phủ, bắt quả tang Giám đốc khách sạn Pa
Khoang Nguyễn Văn Kỷ cầm đầu một bọn lâm tặc chặt 38 cây gỗ ở eo 500. Rồi phản
kháng quyết liệt ông giám đốc bảo tàng tỉnh làm tờ trình xin gỗ Mường Phăng để
làm nhà sàn vv và vv… Ông Bóng lúc ấy nói như xả vào mặt chúng tôi: “Anh quyết
được không, theo tôi không giao rừng cho dân quản lý bảo vệ nữa, vì như thế là
giao cho họ quyền phá hợp pháp. Di ngay những hộ dân ở bản Phăng ra khỏi khu
vực di tích. Hôm nay chỉ là cái nền nhà, ngày mai thêm mảnh vườn, cái ao, miếng
ruộng. Lấy lại rừng của kiểm lâm giao lại cho lâm trường đi, họ phá nhưng họ
còn trồng. Phải đi xem những ngôi nhà gỗ quý sơn toa, cầu kỳ, lộng lẫy và bóng
loáng như được gạ giả vờ một lớp vàng chóa mắt, có trị giá bằng cả căn biệt thự
4 - 5 tầng ở thị trấn huyện, ở thành phố mới thấy rừng đau như thế nào…”
Năm 1984, Đại tướng Hoàng Văn Thái lên
thăm Mường Phăng, biết chuyện ông Bóng, Đại
tướng ôm ghì người đồng đội từng bảo vệ mình, bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch mà
giờ mới gặp mặt, vừa khóc vừa nói: “Anh Bóng ơi, anh đúng rồi. Mường Phăng là
của cả nước đấy, anh cố giữ lấy nhé”. Bữa ấy, xã mổ một con lợn 50kg tại nhà
ông Bóng để tiếp Đại tướng, nhưng “anh Thái” không ăn mà chỉ xin ông một bát
cháo. Đại tướng bật khóc vì không hiểu sao người ta chỉ xây dựng, tôn tạo và bảo
vệ một cách cẩn thận “di sản chém giết” của phía bên kia (hầm Đờ - cát, đồi
A1…); còn kỳ tích của nhân dân và chiến sỹ ta, mà bản thân nó cho thấy tầm cỡ
Quốc tế về khả năng quân sự, thì lại bỏ rơi(?) Sau khi Đại tướng Hoàng Văn Thái
về được non tháng, một đơn vị bộ đội vào sửa lại cửa hầm và phát dọn đường biên
bảo vệ. Từ đó, ông Bóng cùng với 6 người nữa trong tổ hưu Mường Phăng chính
thức được lập thành tổ bảo vệ di tích do ông làm tổ trưởng và, được hưởng lương
là 15 ngàn, chia đều cho 7 người/tháng, do bảo tàng tỉnh chi trả. Có tí chè
thuốc, ông nói lý với vợ con rằng ông đã đúng. Nhiệm vụ của ông đã hết vu vơ,
mờ mịt. Dịp kỷ niệm 40 năm (1994), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng lên thăm Mường
Phăng. Cảm kích trước tấm lòng ông Bóng, đích thân Đại tướng mời ông về Hà Nội,
an dưỡng 15 ngày tại nhà nghỉ Bộ quốc phòng, có riêng một đại úy bảo vệ. Thấy
thế, nhiều người Hà Nội tưởng ông là một vị tướng lừng danh nào đó, khi được
ông cho biết ông chỉ là một nông dân người Thái ở Điện Biên, trong họ lại đầy
ắp thắc mắc về mối quan hệ bí ẩn giữa ông và Đại tướng. Ông kể, về Hà Nội anh
Văn chiều lắm, cho đi thăm lăng Bác, bảo tàng Hồ Chí Minh, hồ gươm, vườn thú…
nhưng buồn và nhớ rừng lắm. Đêm ông thường mơ thấy tiếng cây đổ, tỉnh dậy thì
ra tiếng ô tô chạy thông đêm. Ông cũng vinh dự được Đại tướng mời đến thăm nhà
bốn lần, ở lại ăn cơm một bữa. Những ngày chơi Hà Nội, Đại tướng dặn đồng chí
đại úy đưa ông Bóng đi bất cứ nơi nào, mua bất cứ thứ gì ông thích, nhưng ông
Bóng chỉ xin cái xoong quân dụng để nấu rượu sắn. Mãi gần ngày về ông mới chịu
để mua thêm chiếc xe đạp, vừa làm vui lòng anh Văn, vừa dùng đi 1,5 km từ nhà ông vào khu di
tích đuổi bọn phá rừng…
***
Ông Bóng vẫn nằm thiêm thiếp như thanh
dầm sàn ở giữa nhà. Chiều tô vào ông nét nhạt nhòa, nhợ nhọ. Chuyện “thường
ngày ở bản” được nhắc nhiều nhất có lẽ là chuyện thiệt thòi của ông Bóng. Về
đồng lương, từ lúc thù lao chỉ là
trách nhiệm đảng viên tận 24
năm sau mới được danh chính công nhận, thể hiện bằng việc hằng tháng 7 con
người vinh dự lĩnh 15 rồi 70 ngàn; và năm 2004 là 550 ngàn/người/tháng, thì ông
Bóng nghỉ! Nửa thế kỷ “cải tạo một quan niệm” của ông Bóng, nhân kỷ niệm 50 năm
tổng quần thể di tích Điện Biên Phủ được đầu tư 260/262 tỷ đồng, với hầm bê
tông giả đất, nhà bê tông giả tre, cầu bê tông giả gỗ… chẳng ai phá được, đốt
được. Khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm ngày càng đông, dân
“làm ăn” hẳn lên không nói, tiền vé xe, tiền vé người… ngày càng nhiều phần
trăm, thì ông Bóng nghỉ! Ông
nghỉ vì ông đã có 50 năm dốc cạn sức lực. Ông nghỉ vì ông đã bước sang tuổi 82.
Ông nghỉ là nghỉ cho khỏe chứ không có căn nguyên chướng tai gai mắt… Suốt 50
năm trời ông đi canh rừng, cái duy nhất ông được là cả nước biết đến ông như
một công cụ phụ ích cho di tích lịch sử “độc nhất vô nhị” ở Điện Biên. Cái được
thứ hai, để ông tự bình chọn thì chính là sự biến mất của ba con trâu do kẻ
gian ghen ghét hãm hại khi ông còn thức cho rừng ngủ. Nhưng ông không buồn và
cũng không ngại, ông bảo làm cách mạng mà không đấu tranh thì còn gì nữa…
Nói gì với ông bây giờ. Khi mà chiều
trời đã rơi xuống núi. Khi mà chiều ông đã lặng lẽ thở dài. Khi mà chúng tôi
còn phải đi xa, và bắt đầu lại từ đầu những cuộc tìm kiếm cho ra những người
như ông trên cõi đời này. Khi mà trong cơn mơ, ông thường thấy rõ mồn một những
cánh rừng xa vài chục cây số, giáp xã Pú Nhi, giáp xã Phì Nhừ (huyện Điện Biên
Đông), và hoài nhớ: “Họ thấy mình già, họ không sợ. Chẳng chức trách gì, lập
biên bản họ không ký, đuổi thì họ chạy, tuổi già theo không kịp. Xót ruột nhưng
rừng xa, đi lại khó lắm, không ngủ ở đấy được...” Chúng tôi muốn nói với khoảng
lặng quanh ông, đúng ra là trả lời câu hỏi của ông về rừng di tích (đã từ tết
nguyên đán Đinh Hợi - 2007 ông chưa ra khỏi giường), rằng ông hãy cứ tin vào
đức tin, tin vào một cộng đồng ý thức, trách nhiệm, tiến bộ và hội nhập. Chẳng
biết ông có nghe ra sự an ủi vụng về ấy không mà trên hai khóe mắt, hai giọt
châu gầy bất chợt lăn ra, rồi lại cạn đi trên hai gò nhan nứt nẻ! Ông khóc cho
sự mãn nguyện quan điểm, khóc cho thành quả hy sinh, khóc cho các bạn, khóc cho
chúng tôi - những người được hưởng chọn niềm vui ngày mai; mà chúng tôi thì
chưa hề một lần khóc cho ông, vẫn biết có thể sẽ không còn dịp nào hội ngộ…
Mường
Phăng, xuân Mậu Tý
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét