27 tháng 2, 2013

ĐẤT GẬP GHỀNH

Như một cái xác cáo, mảnh đất nằm lọt dưới chân đèo Tằng quanh năm mây trắng; vào những năm 70, được người qua đường đặt cho cái tên đẹp như trong cổ tích: “Thung lũng tiên”. Thế nhưng, những người từng gắn bó với “thung lũng tiên” lại không nghĩ vậy.
Chẳng rõ từ bao giờ, ngược lại với vẻ đẹp kiêu xa hoang dại của đại ngàn Tây Bắc xen lẫn màu xanh công nghiệp được “hoá phép” ra từ đôi bàn tay của những hoàng tử bằng xương bằng thịt hẳn hoi; “thung lũng tiên” lại được chính người dân ở đây gọi một cách dằn dỗi là “đất Mường Ảng”, bởi nó vô cùng gian truân và cực kỳ bất trắc. Trong chiến dịch chấn động lịch sử 1954,  Mường ảng (Thổ ngữ Thái đen, dịch ra tiếng phổ thông là Mường Khoe, thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh  Điện Biên) là cửa ngõ đón tiếp những cánh quân không đi QL6 để tiếp cận Điện Biên Phủ theo hướng Tây - Bắc, mà rẽ trái, cắt ngang cung núi Lăng Quai theo QL279 hiện nay, vừa có thể tập kết tại Sở chỉ huy chiến dịch Mường Phăng, vừa có thể thọc thẳng vào Cứ điểm Điện Biên Phủ theo hướng Đông – Nam, ngay lá chắn thép Him Lam của bại tướng De Castries. Năm 1958, một Nông Binh trường được thành lập ở Điện Biên Phủ, trên cơ sở của một trung đoàn thuộc F316 ở lại làm nhiệm vụ rà phá bom mìn ngay từ sau giải phóng, vừa để giữ Điện Biên sau chiến tranh vừa giúp đỡ đồng bào các dân tộc ở đây khôi phục sản xuất trận địa Mường Thanh thành cánh đồng Mường Thanh lớn nhất Tây Bắc. Cùng lúc, Nông trường Điện Biên tách bớt hai đại đội là C20 và C22 ra Mường ảng thành lập một Phân binh trường trực thuộc Nông binh trường Điện Biên . Nông trường quân đội duy trì đến 1.1.1961 thì “làm lễ hạ sao”, không còn là của quân đội nữa mà chịu sự quản lý trực tiếp của Ty Nông nghiệp Lai Châu. Sang đầu năm 1967, Phân trường Mường Ảng chính thức tách khỏi Nông trường Điện Biên để thành lập Nông trường với cái tên thị trường hơn: Nông trường Quốc doanh Mường Ảng. Tuy không còn cảnh “ở độc”, “Nông trường một bề” - “mấy trăm thằng nhồng nhỗng với nhau, bao nhiêu ức chế dồn cả vào nhát quốc” nữa, bởi là Nông trường “dân sự”, lại đã phát triển lên tới 1.200 công nhân chứ không chỉ là hai đại đội như trước, nên đã có thêm cả biên chế công nhân vợ, công nhân con và, một đoàn thể được các chàng lính trẻ chưa vợ quan tâm nhất mà trước đây trong một đơn vị quân đội không từng có, đó là... “Hội phụ nữ”! Với dòng máu chiến binh bừng bừng chưa nguội thì làm kinh tế cũng là chiến đấu, kẻ thù đói nghèo cũng giống kẻ thù cướp nước, chả thế mà các cụ “đại trưởng” nhà ta đã thành công nhân mấy năm trời rồi vẫn không quên được việc đốc gác. Có bữa nửa khuya, dở tỉnh dở mê, du mộng mò sang “đốc” vào mông các nữ công nhân chưa chồng, làm các cô hét hoảng lên, gây hiểu nhầm, rầy rà suốt mấy tháng.
      Trong  quãng  thời  gian  này,  cuộc sống công  nhân  thời “ khắc  phục chiến tranh” và “hậu phương chiến tranh” gian khổ vô cùng và thiếu thốn hết mức. Tiêu chuẩn  lương  thực  độn  ngô, độn sắn 7 - 8 mươi phần  trăm, mà  đâu được no. Không thư viện, không truyền hình, không loa truyền thanh (cho tới mãi năm 1996- 1997 Mường ảng mới có trạm tiếp sóng truyền hình, phát 4 tiếng/ ngày; cuối năm 2003 mới có loa phóng thanh nhưng không tiếp sóng Đài tiếng nói Việt Nam cũng như Đài tiếng nói Điện Biên )... . Công nhân sau những buổi lao động mệt nhọc về, lớp lăn quay ra ngủ mong bù lại phần nào năng lượng thâm thụt trút bỏ ngoài rừng, lớp quây quần bên những chiếu chèo vốn lặng lẽ theo hành trang của những “anh cả chị hai" ra đi từ  Hải Hưng, Thái Bình , Nam Định... lên làm kinh tế mới, với các tích chèo cổ nổ tiếng xưa nay hay, những điệu làn thảm mượt mà: “luyện 5 cung” “lới lơ” “sa lệch bằng”... như một cách tự biết làm ấm vào trong từng trái tim và no vào trong từng khúc ruột. Cũng có một số chàng công nhân mới tuyển thức thời, hay gọi cho chính xác hơn là không chịu nổi cuộc sống “leo cây, tụt vực” của các cha, các anh sẵn việc quen với kỷ luật chiến trường nên đã nhanh chân kiếm ngay cho mình một cô “vợ Kim Lân” (vợ nhặt) khi cô này đang “hoá khỉ” giữa dòng suối vắng; để rồi lúc về ở rể, ngôn ngữ bất đồng, một hai lễ phép mời bề trên uống nước chè thì mẹ vợ lại tưởng thằng người Kinh lắm ngôn nhiều chữ nói đểu, mời mình uống nước tè (kin nậm te), hiểu lầm đánh nhau chí chết.     
      Cũng vẫn bước đi chung của những Nông trường Quốc doanh thời bấy, Nông trường Mường ảng bứt ra khỏi sản xuất truyền thống đơn thuần là trồng cây lương thực của Nông trường quân đội trước, sang xây dựng nền móng phát triển kinh tế bao cấp bằng chủ yếu 746 ha cây công nghiệp (cây mắcten và cây trẩu, nghe đâu để làm một nhiệm vụ quan trọng gì đó), 240 ha màu và một đội chăn nuôi với vài trăm con bò - cả sinh sản lẫn bò thịt, để phục vụ mục đích tự tiêu tại chỗ. Thành tựu của những chiến sĩ từ mặt trận trở về chẳng mấy chốc đã biến những cánh rừng hoang vu gai góc, những quả đồi sỏi đá và những khe vực thách thức thành những “cánh rừng” màu gồm ngô, khoai, sắn, lúa tốt ngập dưới chân cổ thụ ten - trẩu. “Thung lũng tiên” lên tục nhận được những “câu ca dao” tán tụng từ nhiều phía, nhưng với tinh thần thắng không kiêu bại không nản, những người lính chiến qua ngót ngoét 34 năm xây dựng Nông trường theo quan điểm của cấp trên đã thấy dần có nhiều không ổn. Từ việc nhà máy chiết xuất tinh dầu mắcten, dầu trẩu với số vốn đầu tư 400 triệu đồng - là một trong hai công trình trọng diểm của tỉnh năm 1978 - sau những năm tháng dài từng làm rung rừng chuyển núi bởi tiếng kẻng vào ca; tiếng xe vận tải quả trẩu, lá ten về xưởng; tiếng băng truyền; tiếng thúc dục tay chân vang dội, đầy nhiệt tâm của hàng ngàn thanh niên nam nữ công nhân ... chỉ đem lại những kho dầu ta-nanh nằm chình ình quỵt lương công nhân hết năm này sang năm khác. Có người từng cay đắng thốt lên cùng bốn khoản nợ vĩnh viễn không quyết toán là: nợ ngân sách, nợ ngân hàng, nợ đối tác, nợ lương công nhân, cộng lại thành cái nợ đời; thành cái nợ một cuộc mang con bỏ chợ(!) Gian truân là vậy, lính chiến quen rồi. Thế nhưng tại sao người ta lại cứ thích lừa mị nhau? Trong những cuộc thương thuyết sau này người ta thường vẽ ra một viễn cảnh như có tiên cứu rỗi rồi kêu gọi tính chiến đấu của các chiến binh để ở đâu mà không vực dậy? Mà không vươn lên chiến thắng bản thân mình? Khôi hài thay lời kêu gọi ấy lại là của một tên đảo ngũ. Hắn được điều về Nông trường khi mái nhà đã đỏ, rừng cây đã xanh và nồi cơm đã đầy. Cấp trên nói tinh thần quyết chiến quyết thắng của người lính thôi chưa đủ, phải có khoa học kỹ thuật và những cái đầu chiến lược cho một cuộc “đại náo kinh doanh” mới hòng làm nên nghiệp lớn. Và, đại diện cho cái “đại náo” ấy chính là Trần kỹ sư. Mà đúng thật, vừa mới nom qua đã biết  ngay là bậc “cao khiết”. Giầy đen kính trắng, áo đút trong quần, bảnh dáng, bảnh diện. Vừa về Nông trường, Trần đã được bổ nhiệm ngay một chức vị quan trọng. Là người có học lại lẻo ngôn, không những rất được lòng cấp trên (mà cũng chỉ thiện cấp trên) Trần còn được đại đa số cán bộ công nhân viên chức trong Nông trường vị nể, nhất là các nữ công nhân mới bổ xung theo diện kinh tế mới, vốn ở quê cơm ngon áo ấm, nay lên góc rừng này trở nên quần đụp  áo chằng; nhìn thấy Trần kỹ sư lúc nào cũng diện, lúc nào cũng tinh tươm như đồng xu mới đúc, mắt đã mà hay háy. Người ta bảo của độc, ừ thì của độc. Người ta bảo hiếm có, ừ cũng khó tìm. Chả thế mà hết cô Duyên đến cô Ka, cô Hiền... chẳng chồng cứ chửa, cứ đẻ, mặc đấu tố, mặc phê bình và tự phê bình; cứ cong cong cớn cớn, mặt bịt da trâu không chín không sống...
      Ông Công lúc bấy giờ làm trên Nông trường bộ. Thời kỳ còn chiến đấu ở Điện Biên Phủ anh em gọi là thần Công, còn bây giờ công nhân lại gọi ngược lại là Công thần. Vốn là cán bộ đại đội cũ, thành lập Nông trường ông được Đại hội công nhân viên bầu giữ chức Chủ tịch công đoàn, do là người đại diện cho tầng lớp công nhân (hạ cấp), sự xuất hiện và tồn tại của một kẻ chủ nghĩa cơ hội như Trần là cái gai găng trong con mắt ông; ngược lại ông cũng là vía kỳ đà, là sao chổi của Trần, khiến không biết bao lần vướng mũi, Trần muốn loại ông ra một lượt. Nhiều người cho rằng họ mếch nhau vì đàn bà. Trrước đây bao nhiêu công nhân nữ ở Nông trường này đều là của ông Công cả. Họ đeo ông như đeo ba lô con cóc, vậy mà ông cứ khô gốc nghiến, chẳng bắt tiếng cô nào, giờ bọn họ chuyển sang chạy theo Trần thì đâm ra bẳn tính. Nhưng ông Công không nghĩ thế. Ông sống và làm việc nhất quyết chỉ vì một lời căn vặn của Đảng, của Bác và hậu tiền nhất nhất: “Trước các chú đã thắng vẻ vang giặc ngoại xâm, nay vinh quang thắng nốt giặc đói, dốt”. Ông cũng biết Trần là người Hà thành, có người thân làm to trên tỉnh và ông càng biết Trần là mần mống nguy hiểm của chủ nghĩa hưởng thụ. Vào thời kỳ đang học đại học, Trần có giấy gọi tổng động viên - phong trào cả nước xung phong ra tiền tuyến - cá nhân hắn không những không đi mà còn lần tìm, móc ngoé, vận động một nhóm nhỏ thanh niên tiêu cực thực hiện “lời thề đảo ngũ” bằng việc đồng loạt chặt ngón tay bóp cò hay cả bàn tay cầm súng để không phải ra trận. Giờ ló mặt lên Nông trường, Trần lại tự cho mình có thừa tư cách rao giảng với ông và đồng đội của ông, những người đã từng vào sinh ra tử, thế nào là lòng trung thành, thế nào là chí chiến đấu, thế nào là đức hy sinh, thế nào là tính tập thể... . “Thật là hàng đê tiện...!”. Trong mọi cuộc họp, ông Công thường nhịn cái khoa học kỹ thuật và chịu cái lưỡi không xương của Trần, chứ ông tuyệt nhiên không sợ ai đó đứng đằng sau hắn. Trong chiến tranh, có ai phải dạy ông nhằm vào thằng giặc thế nào, bắn ra làm sao, và xung phong là xông lên lên hay nằm dưới hào mà hét (!?) Mọi sự cản trở ông tính sổ với hắn trăm phần cũng tại kỷ luật, làm con người phải có kỷ luật, có tổ chức; mà ông thì báo cáo tổ chức rồi ngồi chờ tổ chức xác minh xem xét. Ngồi chờ Trần tiếp tục giở thói chủ nghĩa tư hữu, cậy quyền cậy thế, ăn chặn, lừa phỉnh công nhân. Và cũng chỉ vì “chưa xác minh được” mà vào giờ chót, bằng cái đầu khôn vặt hơn người, Trần vẫn kịp kiếm nhanh cho mình một chiếc bình bịch. Dịp ấy hổ rừng nhiều lắm, bò của đội chăn nuôi thường xuyên bị mất tích, mật rình ngày đêm theo đủ loại kinh nghiệm của các chuyên gia bản địa mới bắn được một con, Trần nói là vác về Sở xin cho anh em mấy ngày công thưởng, kỳ ra hắn đưa về Hà Nội đổi đôi... chân máy(!) Thế rồi đùng một cái Trần “nhận kỷ luật” bằng một chức vị cao hơn, trên tỉnh; đùng cái nữa Nông trường Mường ảng giải thể (năm 1993) với chồng chất những khoản “nợ đời” khó đòi, khó trả. Kẻ đảo ngũ một lần nữa hếch cái mũi khứu thính hơn người cười vào cái mũi khứu thính kém người của ông. Hắn bỏ lại sau lưng 1.200 công nhân không rơi vào diện chính sách gì, hắn bỏ lại 390 ha mắcten, 374 ha trẩu tốt lụt trời suốt 33 năm vun xới của hơn một ngàn công nhân bỗng chốc bị chính tay những người có công chăm bón hạ xuống, bổ củi, bán than để cấp cứu cấp tốc cho cái dạ dày mà hắn, đại diện cấp trên đã chẳng héo gan, ông trời cũng không rầu ruột. Cả một nhà máy, cái gì thu hồi lại được đã có người đứng ra vừa công khai vừa lén lút thu hồi. Đối với những kẻ “phản bội lời thề xây dựng Nông trường” cũng vậy; một việc duy nhất “có trách nhiệm” là ngay lập tức, hình thành một đường dây chạy sổ hưu cho những công nhân lỡ vụ, tiếng là để “cứu rỗi tuổi già của những người có công với cách mạng”...(!?)
      Đất Mường Ảng thời Nông trường sầm uất là thế mà sau khi giải thể bỗng trở thành côi cút hoang liêu. Người người khăn gói tay nải bươn đi khắp vùng gặp gì “ăn” nấy: phu hồ, xẻ gỗ, đập đá, phá mìn, đào vàng, đãi cát... và không ít bỏ xác nơi miền đất lạ. Vì túng quẫn mà không dưới vài lần, nghe phong thanh ở trong một chiếc hang treo trên đỉnh núi có bạc nén dấu từ thời Thái bình thiên quốc của những người Việt gốc Hoa gây ảnh hưởng từ chiều đại phong kiến trước ở Trung Quốc trốn truy sát sang Việt Nam, mà người Mường ảng xếp hàng ra đi không có ngày trở lại. Chuyện còn nhắc mãi về một người tên tục là Lưu Phúc Tăng, ôm mìn cảm tử vào phá cửa đá mong để lại cho vợ con kho báu hưởng một đời không hết. Phú quí thì chẳng thấy đâu ngoài việc xương tan thịt nát, người nhà lên tìm chẳng được mảnh nào, chỉ thấy vách đá tím bầm và một dòng nước đỏ chảy ong óc ra từng dòng từ vú đá. ở nhà, đàn bà, người già, con trẻ vật vã với mảnh đất chất chứa bao bận chìm nổi, trôi dạt của biến cố cơ chế, rồi lại suốt từ năm 1993 đến 1997 “đất nhà bị thất lạc trên  bản đồ”, cho không không đắt. Nhiều ý kiến cấp trên muốn nhanh chóng quên đi một “sai lầm” một sự “xấu hổ Mường ảng” ngay từ trong dự án kinh doanh, vốn hùng hồn như một bài ca ra trận, bằng cách xé Mường Ảng ra làm ba mảnh, chia về cho ba xã dân tộc nghèo lân cận; nhưng cả ba xã trên đồng thanh không nhận bởi họ sợ với chức năng quản lý hành chính “nông dân”, họ không kham nổi những con người đã từng là lính chiến, đã từng là công nghiệp. Kể từ đó Mường ảng sống và phấn đấu theo cách của riêng mình, nhất lại là âu theo cái hoàn cảnh đi không có nơi tiến mà về cũng chẳng có đường lui này. Từ những đồi Mâm Xôi, bãi C2, khe Sét Đánh... - thủ phủ của Nông trường thời chiến, vừa đảm bảo sản xuất vừa đảm bảo an toàn, mà an toàn tuyệt đối dưới tán lá rừng - người ta đua nhau kéo ra mặt lộ bán xén, nấu rượu, batoa, xe ôm... mà dân quèn thì chẳng sợ ì xèo và đảng viên cũng không ngại kỷ luật. Nhưng những thức thời thời ấy dù có nhạy bén đến đâu cũng không bù được quãng tháng năm dài đằng đẵng ăn đong ở mượn. Hơn 200 gia đình với trên 2000 con người đếm ra trên đầu ngón tay vài hộ tạm thời đủ ăn, đủ mặc; còn lại phần đông, vận kiếp có vẻ mong manh, phúc trạch nhiều phần dang dở, nên sống thì giả mà chết thì thật ngay từ lúc chấm dứt cuộc đụng mổ hầu bao là cái dạ dày bao cấp, vốn tồn đọng trong chiếc nhà máy tự hào, giờ chỉ đủ tư cách ngang đàm với dăm mụ đồng nát đại phúc, đại phước. Đại trượng phu tự ra tay cứu mình khi ông trời đã đoạn tuyệt quay đi mà cấp trên cũng không thèm ngoảnh lại, như đã nói nhiều lần rồi, người ta từng rẻ mạt hoá và trao đổi hoá cuộc sống, để ném xác mình lên nửa tầng trời xanh với giấc mơ “vàng lộ thiên” xa nhân, trầm hương, thảo quả... hoặc vùi đời vào sâu giữa lòng đất đỏ lùng tìm vận may báu vật mà nồi cơm vẫn cứ vơi, cật lưng vẫn cứ lạnh. Xương máu nhiều rồi nên chẳng phải hiền triết gì cũng nói được một câu vừa đúng, vừa triết lý đến tận cùng có lý đó là: “Muốn sống được thì phải có tiền”; và, một trong những cách kiếm tiền chóng vánh và hiệu quả nhất là đi buôn ma tuý(!) Theo một thống kê sơ lược, nhưng còn nhiều phần trăm nằm trong kế hoạch đấu tranh ngầm, theo cách nói “thiên cơ không thể để lộ” thì Mường Ảng có chừng vài chục đại gia, vừa bảo kê đánh bạc, vừa buôn bán heroin, vừa tổ chức đầu độc thanh niên hút trích. Với chỉ 2.863 dân thôi mà có tới 110 con ngiện, gần nửa số đó nhiễm HIV, và gần nửa số HIV đã chết ở nhiều nơi, thậm chí cả trong các trại giam trên toàn quốc; và chết theo nhiều cách: AIDS giai đoạn cuối, tự kết thúc khi biết mình mắc AIDS ..., dùng AIDS tống tiền chỉ để đáp ứng một nguyện vọng cháy bỏng: “Đi tù cho nhà nước nuôi!”. Đến nỗi người ta vừa được phen nô nức đổ nhau ra đường để đón mừng cuộc sống mới có vẻ dễ chịu hơn, thì ngay lập tức chạy về đóng cửa thả chó, người nhốt  trong nhà và, sẵn sàng từ mặt mặc dù đó có là người thân ruột thịt, vì mỗi một nỗi: con “ết” (đại diện cho thần chết) đang rình rập bất kỳ trong bóng tối - không được công khai công bố vì tránh kỳ thị đối sử! ở đây tôi được nghe rất nhiều chuyện xung quanh việc cư sử với người mắc HIV; kể cả những người vốn xưa nay được ân hưởng “vác tù và hàng tổng” thì nay với phương trâm “tránh “ết” như tránh voi”, cũng kiếm cớ trốn biệt về “vác tù và nhà mình”...(Chuyện lần nữa làm người ta kinh hoàng nhớ lại những năm 1993 – 1994, chỉ vì nỗi phàm ẩm của các “anh Chí ” khi tha ở đâu về một cái xác chó chết, mà trong nháy mắt, cả Mường ảng rơi vào thảm hoạ: chó dại ở đâu đổ ra đầy đường, con quân tử thì cắn trước mặt, con tiểu nhân cắn trộm sau lưng khiến cho nam, phụ, lão, ấu ngã xuống cả mấy chục mạng). Những nghĩa cử cao đẹp của những con người xưa thật thà chất phác, nay liên quan trực tiếp đến tính mạng thì một hai xin mặc kệ người đời tuỳ cách đánh giá là vong nghĩa, là bội lòng... là tư kỷ. Có gia đình chỉ 3 bố con thì cả 3 cùng nghiện, cùng “ết”, mà lại là bố cấy sang con. Có nhà một đinh nối dõi, cũng mặc kệ mọi sự chết điếng chết đau của tổ của tông, cứ như duyên định, tự nguyện tận tuỵ cúc cung dâng thân hiến xác cho đao phủ “phe” để rồi thẳng tay đàn áp bố mẹ, phá nát cửa nhà; đến khi ông bố quyết định quyên sinh mong cứu lấy sự tỉnh ngộ muộn mằn của thằng con hy vọng, thì bố đi tháng trước con theo tháng sau. Có ông chồng nghiện, lâm cảnh khốn cùng đã đang tâm đánh đổi tiết hạnh của vợ, ngay trước mặt mình, mặt con, ngay trong “túp lều tranh hạnh phúc” cho bạn nghiện để lấy một liều ma tuý vừa đủ cắt cơn... . Tôi còn may mắn được diện kiến tận nhà một bà mẹ, sau khi chồng chết để lại mụn con cưng; một đời bà, theo di nguyện của chồng, làm lụng cực khổ để cuối cùng: “Thằng con sướng quá hoá cuồng” lôi bạn về nhà chích heroin ngay khi chưa đầy 14 tuổi. Thờ chồng, thương con, bà mẹ đi thuê hàn một chiếc cũi sắt để nhốt cậu bé lại, đến nay cậu bé ấy đã ngoài 30 rồi, tiền cũi dồn bòn bao năm chưa trả hết mà con thì vẫn hiến đời cho cuộc “thí nghiệm”... nghiện! Ở Mường Ảng trước sau có tới 60 gia đình có chồng, con , em “chơi” ma tuý; hơn 30 người, cả đại gia và cả tiểu gia, đang thụ hình ở các trại giam với nhiều mức án khác nhau , thuộc nhiều tội danh, cả cướp dật -  giết người, nhưng đều liên quan tới ma tuý.
      Sau quãng thời gian dài giành giật Mường Ảng về từ tay hoang dã, một quãng thời gian dài vật lộn với sự tồn tại của Nông trường; và một quãng thời gian dài người ta lao ra bám vào bụi đường, bám vào phúc đức tu tỉnh hơn người và bám vào sự  mất cảnh giác của nhau để gieo rắc cho nhau cái chết, lấy về cho mình cái sống, theo kiểu thoả sức vẫy vùng của những con người bị bỏ quên... . Những mong đắp đổi một tương lai xa, ngẫm lại hậu thế loạn xị. Thả nổi mãi. Bất mãn mãi. Tính chiến đấu để đâu? Mười một lời thề để đâu? Người trả lời câu hỏi khó vẫn không phải ai khác mà là ông thần Công một thời “rách việc”. Sau khi nhận quyết định về hưu, ẩn dật xa xôi ở một góc đồi, ngoài việc “tự do” thành lập “Hội những người từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ và tham gia quân ngũ” trước khi Hội cựu chiến binh Việt Nam chính thức thành lập (6.12.1989) hơn chục năm trời, âm thầm đau sót! Thương tâm quá! Thê thảm quá! Không thể yên thân mà nhìn được nữa rồi, ông Công thần  lặng lẽ cắp cặp tài liệu bấy lâu nay nhàn rỗi thảo soạn ra đi làm một việc tưởng chừng như vô nghĩa, đó là: “Tìm lại một Mường ảng có thật trên bản đồ phân giới hành chính!”, để rồi từ đó thiết lập lại một môi trường quân đội trong khu dân cư; chỉ có kỷ luật sắt, quân lệnh như pháp lệnh mới mong cứu được đất Mường Ảng. Suốt 4 năm ròng ông ôm đơn đi trình xin huyện, xin tỉnh, rồi về cả Trung ương, vào văn phòng Thủ tướng để trực tiếp được báo cáo, và cuối cùng, một buổi lễ còn trên cả long trọng, trên cả tuyệt vời của gần 3000 con người đón mừng ngày thị trấn Mường ảng chính thức được thành lập theo Nghị định 52/ CP ngày 26.5.1997 của Chính phủ. Liên tục từ bấy đến nay, ý chí và khí thế chiến binh đã làm cho đất Mường ảng thay da đổi thịt. Những nghị quyết liên tục được Đảng bộ thị trấn của ông triển khai trên cả 4 mặt trận: văn hoá tư tưởng; kinh tế đời sống; chính trị và an ninh trật tự . Tiếp chúng tôi trong dãy trụ sở long lanh như... “biệt thự”- một trong hai công trình hai tầng đầu tiên, nhà nước và nhân đân cùng làm - Chủ tịch UBND thị trấn Mường ảng Nguyễn Tiến Đạt, một cựu chiến binh trẻ, tương đối thẳng thắn: “Hợp tác với nhà báo là dễ bị khiển trách lắm đấy”, tôi hỏi lại: “Anh sợ à? hay là ta thôi, tôi cứ viết theo cách của tôi vậy”, anh cười: “Tôi chỉ sợ lẽ phải, cựu Bí thư (tức ông Công) của chúng tôi dạy thế ”...
      Mường Ảng có diện tích tự nhiên khiêm tốn lắm (502 ha - là thị trấn lại càng bị cắt đi nhiều), nhưng vốn vẫn là dân Nông trường cũ nên  máu làm nông rất dồi dào. Cả tỉnh có hơn 400 ha cà phê do Công ty cây công nghiệp Điện Biên tổ chức gieo trồng, chế biến và tiêu thụ thì Mường ảng đấu khoán 3/ 4 số ấy. Cả tỉnh có một nhà máy chế biến cà phê với công suốt đồ sộ 1.200 tấn/ năm, thế nhưng số phận của nó chẳng vinh quang gì hơn nhà máy chiết suất ta-nanh Mường ảng những năm 70. Các ông chủ của nó, vì rất nhiều lý do, mỗi năm chỉ cho chạy được vài ba chục tấn. Không đủ lãi, không đủ cả vốn,  máy móc han gỉ, băng chuyền đứt đoạn tơi bời. Hết năm này qua năm khác, người ta chẳng biết làm gì (kể cả chuyện vui vẻ bỏ mặc hơn 400 ha cà phê đang ở tuổi kinh doanh xung sức nhất), ngoài việc vẽ vào đó một vòng số 8 để cho bà con các dân tộc vùng cao xuống tập thi lấy bằng xe máy và, mấy mụ bật bông tranh thủ hệ thống dây căng chằng chịt vào phơi chăn đệm. Nhưng cái đáng nói ở đây là người lao động ở đất Mường Ảng phải chịu vạ. Với 231 hộ (bằng 31,2% dân số thị trấn) trồng hơn 300 ha cà phê, sản lượng hàng năm vào khoảng 45.000 tấn cà tươi, con số mà suất phát từ những nỗi lực tự mình cứu mình ấy đủ nói lên rằng đó chính là sự giầu có nhỏ của một địa phương nhỏ như Mường Ảng nếu như sản phẩm của nó tìm được đường về đúng đích. Một lần nữa trong công cuộc phát triển kinh tế mới, người Mường Ảng lại bị lỗi hẹn. Làm thế nào bây giờ? Là người lính tại sao lại hỏi làm thế nào bây giờ? Vậy là ba bốn năm trời với dăm bảy đường chạy, con dân Mường ảng rủ nhau bắc nhiều lần cầu, chịu nhiều chặng giá mang cà phê về kêu cứu tận cổng Tổng Công ty cà phê Việt Nam. Người đi trước giúp người đi sau, người có khả năng giúp người không có khả năng, người có vốn thu mua giúp người không có vốn, rẻ một tí, thiệt một tý nhưng được cái là đến đâu hết ngay đến đó, người lao động đủ cả thời gian lẫn thời giá bù phí lao động; nghề lao động chỉ mong có vậy. Thật là không hổ thẹn với các bậc cha anh có công xây dựng Nông trường xưa. Nhưng nói như thế quả khéo chèo thay vụng trống, người Mường Ảng vốn thiệt thòi, mà đâu chỉ có một lần. Có người bảo: “Trăm sự tại cái năng động của mấy ông cựu chiến binh, kỳ rày không bầu mấy ông vào thị trấn nữa”, nhưng nhiều người khác lại cho rằng: “Không có tinh thần chiến đấu và ý chí chiến thắng của các ông thì Mường Ảng đứt cước lâu rồi”. Thấy người ta có điện mà mình không có, các ông cắp cặp đi xin, xin không cho các ông mua lại rồi “bán lỗ” cho dân dùng. Thấy vậy ông Điện lực mỗi lần làm dự án cung cấp điện nông thôn đều “cho qua” Mường Ảng bởi đã có điện rồi, mà giá điện ở đây lại đang được. Các ông kêu, người ta về khảo sát một hai năm, cắm cọc một hai năm, kéo dây một hai năm nữa rồi ...để đấy (chính vụ này Chủ tịch UB kêu về Tổng Công ty điện lực Việt Nam, đến tai nhà báo và bị cấp trên khiển trách); người Mường Ảng vốn kiên cường trong chiến đấu, kiên cường trong lao động thì bây giờ kiên cường chờ điện(!) Chờ từ năm nảo năm nao, đường điện lưới Quốc gia 35kw chạy qua thị trấn lên Điện Biên Phủ thừa điện sét đánh khét lẹt, rồi hò nhau chạy đi chữa cháy cho trạm hạ áp bỏ không đến tận cuối năm 2003. Mường ảng vốn là một lòng chảo, được bao quanh bởi hai dãy núi Pu Lăng Quai và Pu Pha Phạ, 1/3 dân số sống trên cao về mùa khô không có nước, và một phần trong số còn lại nước sinh hoạt ô nhiễm, do không còn cách nào khác, phải chung cư  với bãi mả; các ông lại ra đi rồi lại về kiên cường chờ đợi. Một năm, hai năm, ba năm , bốn năm... nước sạch nhà nước hoàn thành thì lạ thay, chính 1/ 3 số dân ở trên cao, cần nước từng ngày thì lại không được dùng nước bởi dự án có vấn đề về công tác khảo sát thiết kế; những người dân vốn vẫn có nước thì cả tuần mới mở một lần, nhưng vội vội vàng vàng vì sợ vỡ ống dẫn. Đại loại những chuyện đại loại về đất và người Mường Ảng kiểu “trời cao kêu chẳng thấu trời”, còn vào loại đại...; đất ít rừng nhiều đành nói sang chuyện khác. Nhớ hôm mới có ý định về Mường ảng 10 năm về trước, một người bạn làm trong ngành Công an trên tỉnh nói với tôi rằng: “Ông về cái đất “tam giác quỷ” ấy ban đêm chớ có lớn sớn ra đường, không “ăn bánh gậy” của bọn maphia thì cũng “nhập còng” của công an khu vực”. Mà đúng thật, từ ngày Mường Ảng trở thành chiếc đòn, gánh hai đầu ma tuý Tuần Giáo - Điện Biên thì Mường Ảng cũng đồng thời trở thành đất hàng anh hàng đất chị. Có miếng ăn đồng nghĩa với việc phải có quả đấm mạnh. Theo những đại gia khét tiếng, đã từng vùi người xuống đất nhịn đói ba ngày liền chỉ để chờ cơ hội ôm lọt một bánh heroin, hoặc ngồi bói gối một ngày một đêm trong tủ, có thể là nhảy ra đánh vài ván bạc cho đã cơn thèm; vừa mãn hạn cải tạo, rửa tay gác kiếm, rửa cả lộc trời thì chỉ cần tổ chức cho đàn em ôm 1 bánh heroin, xa thì từ xã người Mông Na Ư - một trong “top 3” địa phương tàng chữ, buôn bán và sử dụng lớn nhất nước, thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên - gần thì từ thành phố Điện Biên Phủ qua Mường Ảng ra Tuần Giáo, quãng đường không xa lắm, chỉ độ 80 km nhưng phải “độn thổ” qua ba chốt chặn của các cơ quan chức năng, là đã có thu nhập thất bát cũng bằng một năm làm 1 ha cà phê trúng vụ. Nói như người dân tộc ít học thì buôn ma tuý không thằng nào cần khôn hơn thằng nào, việc này chỉ cần người có bàn chân to và quả đấm mạnh, đi nhanh đấm khoẻ lại dựa vào rừng núi trùng trùng; hạ sách mới phải mua chuộc chức năng, vì như vậy là mất cơm con, cám lợn. Thế nhưng đêm nay liều ngồi phệt tông giữa ngã ba đường cùng với Chủ tịch Đạt như dân dặt dẹo, đốt diếu Điện Biên không đầu lọc rồi thả khói chữ 0 lẫn vào mây trời. Đêm Mường Ảng không còn quánh khói thuốc phiện như vài năm về trước nữa. Trăng sao như vừa thoát ra khỏi vùng ám khí, sà xuống mơn môi lên da, lên mặt. Hơi đất tái sinh tắm mát lịm vào từng nang phổi, khiến những người thường xuyên thiếu dưỡng khí như tôi ngớp cho đến khi no chướng. Trên mái núi, tiếng gà tre đàn mới lớn học gáy trăng vỡ như tiếng điếu ục. Tôi buông cái thở dài tiếc nuối khi nhớ đến một đồng nghiệp, do có việc đột suất mà đến phút chót đã không thể cùng nhau về Mường ảng được, thì Đạt đưa tay lên miệng khẽ xuỵt: “Anh có nghe tiếng mang tác không?”, “Có, cả tiếng hoãng nữa”. Ừ, hoãng cái đấy (đực chẵn cái lẻ)! Hoãng về là đất lại lành rồi!”. Cái lành mà người cán bộ trẻ và nhân dân anh mong đợi từ chính nỗi lực của mình được thể hiện ngay sau đó chỉ chừng dăm phút: một toán người từ trong bóng đêm ập ra vây tròn lại, gậy gộc đen hoắt. Đạt thấy vậy đọc nhanh câu “thần chú”: “Hoà Bình!”, từ phía toán người ấy có tiếng đáp: “Điện Biên!”. Vậy là tốt rồi. Tổ tuần tra của các khối dân cư đấy. Theo như ghi nhận của nhiều cơ quan chức năng liên quan thì chỉ trong năm 2003, Mường ảng đã vừa vận động vừa cưỡng chế (đối với con nghiện tiền sự) tổ chức cai được cho 150 lượt người mắc nghiện. Chỉ tính riêng lực lượng phối kết hợp liên ngành của thị trấn gồm công an, xã đội, dân quân du kích, đoàn thanh niên... (nhiều khi cần, huy động cả hội phụ nữ, hội cựu chiến binh...) mấy năm trở lại đây, mỗi năm triệt phá được vài chục vụ buôn bán, tàng chữ, vận chuyển và sử dụng ma tuý ở trên địa bàn; với những hình thức cực kỳ tinh vi, dấu thuốc vào trong hậu môn, hay pha sẵn thuốc vào nước hoa quả bán cho con nghiện ... giải khát; và vài chục vụ chộm cắp, lừa đảo, tổ chức đánh bạc, đánh đề, lừa hụi...
      Như sực nhớ ra lời đề nghị được đi “đánh án” cùng anh em an ninh của tôi hồi chiều, Chủ tịch Đạt vời một cụ già đã ngoài 70 lại thầm thì điều gì đó. Người mà Đạt kính cẩn gọi bằng ông nói trên là ông Nguyễn Ngọc Yên, khắc tinh của giặc Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa; thời Nông trường ông làm Trưởng một phòng, còn giờ là phó Ban phòng chống các tệ nạn xã hội thị trấn, dứt khoát: “Ai đi cũng được nhưng tự bảo đảm an toàn lấy”. Tôi thoáng rùng mình cảm nhận tính nghiêm trọng của vấn đề, nhưng chỉ còn cách đành run run dấn bước. Như dọc được lo ngại trong dáng tôi, Đạt tiếp thêm cam đảm, trỏ vào cái lưng chớm những nét còng tuổi tác, đã khuất dần trong màn tối của ông Yên, đùa: “Tai hoạ của tội phạm đấy”. Quả thực tôi không tin nhiều, bởi thoạt nhìn, ông Yên nhiều phần hom hem lắm. Buổi mật phục của tổ tuần tra khối 7 (thị trấn có 10 khối dân cư, khối 7 là trung tâm...tội phạm) do anh Vũ Duy Dương, trưởng an ninh khối chỉ huy; như tìm được sự che trở nhất định, tôi bước nép sau anh hỏi nhỏ, anh trả lời êm như mật: “Vừa nhận được tin quần chúng, cấp báo tên Hoàng Văn H. - một đối tượng nghiện hút nhiễm HIV, hồi chiều đem xi lanh ra chợ doạ chị chủ quán phở: nếu 11giờ đêm nay không đưa một khoản tiền mà người khác nợ hắn cho hắn, thì hắn sẽ truyền vi rút HIV sang chị và con chị.” Biết ngay mà, nhưng dù sao cũng không thể để lộ sự hèn nhát ra trước những cựu chiến binh quả cảm được. Vừa đến nơi mật báo đã thấy H. tinh quái xuất hiện sớm hơn dự định theo một phương án đối phó, tay trái hắn là chiếc xi lanh còn ầng ậc máu tươi, tay phải cầm con dao mèo dài già nửa thước. Như được lập trên máy tính, không nhường ai, ông Yên ập vào như một cơn gió, chẳng biết bằng cách nào, dùng thế võ gì; tôi chỉ kịp nghe cái hự, con dao và chiếc bơm tiêm trong tay H. văng ra, H. điên cuồng tháo chạy. Quả không hổ danh là tay anh chị, nhanh như một tia chớp, H. nhảy vụt qua vòng lửa an ninh, chạy biến vào rừng. Thất vọng quay ra, giải thích cho hành động có phần xả thân lúc nãy khi được tôi hỏi, ông trả lời cộc lốc, nhưng vừa đủ hiểu: “Mình già rồi!”. Hai ngày sau, địa phương có giấy báo H. đã bị bắt cùng tang vật là một chiếc xe máy ăn cướp được ở Hà Nội...
      Trời Mường Ảng hôm nay có phần dịu lại, sau cơn mưa kỳ cọ sạch vết tích bụi bặm trần ai khiến cho người ta đột ngột thấy cảm giác hưởng thụ của một không khí an lành; mặc dù mới hôm qua thôi, người Mường Ảng đã phải trả một cái giá cuộc đời đắt đắng. Cái giá mà rất nhiều người, nhiều gia đình đã lấy làm kinh nghiệm để sống cho mai sau, trong đó có đương chức Bí thư, có đương chức phó chủ tịch, và còn nhiều nữa; các ông đều là cựu chiến binh, và đã có một quãng đời dài, chán vật, chán người gật đầu bố thí đời mình cho những cơn mơ “tiên” của ma tuý. Nhưng đó chỉ là chuyện của ngày xưa chứ bây giờ họ đều được người dân ở đây tin, tín lắm. Bằng kinh nghiệm mất mát đời mình, mà hôm nay, không chỉ có ở trong các bản báo cáo mà tận mắt chứng kiến thấy người Mường ảng, chỉ trong khoảng dăm năm lái chèo đổi mới, ít nhất cũng đã có hàng chục tỷ phú, hàng trăm triệu phú VNĐ... bằng mồ hôi nước mắt lương thiện. Cũng chỉ trong vài năm phát triển “trâu chậm” mà hầu hết con em các gia đình ở đây từ chỗ học nghề là một giấc mơ bất khả thi thì giờ đều có khả năng ăn học đại học (có nhà đến 4 người). Nhớ có những lúc, những người có chút ít điều kiện chuyển vùng đi nơi khác đã giận dỗi coi Mường Ảng như một cái phanh, hãm vào vận số con em họ nên họ phải ra đi, tìm một đường học mới làm hành trang cho một tương lai mới; thì hôm nay, hàng năm, Hội khuyến học thị trấn lại tưng bừng tổ chức cho cả mấy chục em lên đường gia nhập vào các trường đại học, cao đẳng, trung học... chuyên nghiệp. Chưa kể truyền thống bấy nay Mường Ảng đã có tới hằng trăm thanh niên, phần học hành đỗ đạt, phần  tình nguyện phục vụ lâu dài trong các lực lượng vũ trang: Công an, Bộ đội, Biên phòng... với phương trâm bảo vệ chính cái quê hương ven biên này là đang bảo vệ Tổ quốc; mà ở vào những năm trước, những người con trân chính không ai đủ yên tâm bước chân đi xa nhà bởi trăm sự khó khăn, hoạn nạn - nếu chưa muốn nói đến cả tai hoạ do bọn bất lương gieo rắc, và ngàn nỗi học hành đứt đoạn khác. Mường Ảng hôm nay, hưởng ứng lời kêu gọi “vùng nào cán bộ ấy” tự lực phấn đấu cân bằng xã hội, đã có hơn một trăm thầy giáo, cô giáo, cũng như các ngành nghề khác, là con em Mường Ảng đang cống hiến hết khả năng và hết tâm huyết cho quê hương thân yêu của mình; thay vì vài ba suất học ngành nghề theo chế độ chính sách cho cả chục năm, trước kia.... 
      Tin vào con người mà không tin vào mảnh đất nhiều duyên phận, gập ghềnh, trắc trở thì quả thực chưa hiểu Mường Ảng được bao nhiêu. Cũng như “kẻ cơ hội”, tôi về Mường ảng khi nhà đã cao, học đã thành và con người cũng sang hiền trở lại. Suốt 46 năm thử lửa ra vàng, không còn nghi ngờ gì nữa, con thuyền Mường ảng  khẳng định  cuộc vượt bể vững vàng trong tay những người mặc áo lính, qua bao sóng bao gió, bão táp đời thường. Tôi dường như không còn việc gì, đành mon men sang Ban văn hoá - nơi có hệ thống loa phóng thanh, chỉ đủ kinh phí lên tiếng mỗi khi cần, thì bất ngờ gặp lại ông Công. ở tuổi trên dưới 90, tôi ngỡ ông rỗi rãi lội bộ ra UB vừa để tập thể dục, vừa để kiểm tra công việc gánh vác xã tắc của các bậc hậu thế. Nhưng không, ông ra đề nghị Ban văn hoá thông báo  lên loa một tin buồn: “Nguyên Giám đốc Trần do tuổi cao sức yếu, đã ra đi tại nhà riêng. Lễ nhập quan, lễ viếng, lễ an táng vào hồi... . Đề nghị bà con, một lần tử là vạn lần nghĩa... . Thay mặt Ban Giám đốc Nông trường cũ: Công”.
      Trong mắt ông không còn sự giận dỗi ngày nào mà thay vào đó là hai hàng nước mắt, mặc dù đã khô dần theo thời gian, của người đi sau nghiêng tiễn người đi trước!
M.A,15.9.2004

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét