Phóng sự
Theo thống kê của Phòng Quản lý hành chính
(Công an Lai Châu), hiện số súng tự tạo quản lý được trên địa bàn toàn tỉnh là
11.145 khẩu. Súng tự tạo (STT) hay còn gọi là súng kíp, do người dân, bằng
những kinh nghiệm truyền đời, đã chế tạo ra nhằm phục vụ mục đích sử dụng tùy ý
của cá nhân các hộ gia đình dân tộc thiểu số Tây Bắc. Trước đây, STT đã từng
làm kinh hoàng bọn giặc cướp nước, lũ cướp của và làm ngã gục hầu hết các loài
thú hung hãn tàn phá nhà cửa, mùa màng và mạng sống của nhân dân; nhưng bây giờ
STT đã và đang là nỗi lo canh cánh không chỉ của các nhà đương kim quản lý, mà
còn của cả các thân nhân người sử dụng…
Súng tự tạo và
quá khứ kiêu hãnh
Nguồn gốc súng tự tạo (STT) phải kể
đến đầu tiên trong cộng đồng các gia đình người Mông (Mông đen, Mông hoa, Mông
khoang…). Xuất phát từ tục “tự cư tự đi” xa xưa, một ngày kia giữa trùng trùng
non cao vực sâu và điệp điệp rừng xanh suối biếc, những chiếc bẫy dập, bẫy hầm…
những mũi lao đồng và những ngọn tên bọc sắt bỗng chốc trở nên kém hiệu quả và
có phần lép vế, đã đành; những chuỗi ngày đứt bữa quy mô toàn bộ tộc xuất hiện
ngày càng dày hơn, vậy là STT ra đời. Lúc đầu để có một khối thép vừa đủ sản
xuất nòng súng là một chuyện gây tranh cãi quyết liệt. Sau đó, ông tổ của STT
đã phải cắt bớt ngô, thóc, lợn, trâu… trong nhà để đổi lấy dao cùn của cả bộ
tộc đem về rèn nhuyễn vào nhau rồi mới kéo ra thành nòng súng. Công việc khoan
súng cũng thật chật vật, không tay trai tráng nào khoan cho thấu, cuối cùng ông
đã nghĩ ra chong chóng khoan bằng sức gió và guồng khoan sức nước; tuy vậy cũng
phải mất đến vài tháng mới khoan được một mét. Chính vì khó cho nên đến tận
ngày nay, cả một vùng núi rừng rộng lớn thảng hoặc mới có một người thợ làm
súng giỏi. Thợ càng giỏi thì súng càng đắt, cứ 10cm tương đương với hàng trăm
kg thóc, vài chục kg thịt lợn, hay bằng “1 chân trâu” - khẩu súng dài 180cm giá
tương đương với 2 con trâu (8 chân). Ấy mới là súng 6 cạnh (lục lăng) chứ súng
9 cạnh, 12 cạnh còn đắt hơn nhiều. Một khẩu STT tốt được cha đẻ của nó quảng cáo
bằng việc nhồi vào nòng cả gang tay chiều dài thuốc súng (gấp cỡ 3-4 chục lần
liều bắn thông thường), rồi từ xa dùng cây kéo cò. Súng nổ, nòng không vỡ thì
mới được xem ra bắn thử xem độ chụm của đạn. Do những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đó
mà đạn ria ít lạc và súng ít vỡ nòng ngay trên tay người bắn như STT bây giờ.
Chơi súng và
những thảm khốc do súng
Ở Lai Châu hôm nay, xin thông báo một
cách thật buồn là nhiều nơi rừng nguyên sinh đã mất dần bóng. Họa hoằn đâu đó
rừng còn, thú còn thì đội quân STT, như một cơ hội cuối cùng còn được thể hiện,
đã ồ ạt lên tiếng hòng xóa sổ bất kỳ loại hoang thú nào còn sống sót trên mặt
đất, trừ con người.
STT vẫn được người ta “sản xuất” và
bán như bán nấm, bán măng ở các chợ vùng cao với lời lẽ giải thích đầy bất trắc
“Mua để giữ nhà!”. Ngày xưa không bao giờ có những khẩu STT ngắn dưới 1m bởi
hiệu quả bắn xa rất kém; nhưng hôm nay lại tận mắt thấy nhiều khẩu nằm lọt gọn
trong 5 ngón tay, bình thường được các thanh niên “khéo tay” chế tạo để giắt
vào rốn khi đi chơi… gái. Hơn thế nữa, STT ngày càng xuất hiện nhiều trong các
vụ thương thuyết, như một sự khẳng định uy lực của các ông trùm trong các đường
dây buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy lớn ở Lai Châu. Ngoài những vụ mưu
sát người thi hành công vụ thương tâm đã xảy ra, xin đơn cử ví dụ: “Chuyên án
Vừ A Thếnh” - một trong số 35/40 chuyên án ma túy thành công của Công an Lai
Châu năm 2001 - các trinh sát phòng chống ma túy đã khám nhà Thếnh và phát hiện
có tới 5 khẩu STT được Thếnh “mật đặt” ở 5 nơi một cách mĩ mãn trong kế hoạch
“mở đường máu” khi bị lộ. Thật may là công an đã “bắt người trước, bắt súng
sau” chứ không thì không ai dám chắc có hay không một vụ Lò Văn Xanh (người Nà
Tấu, Điện Biên đã bắn chết một sĩ quan công an trước khi treo cổ) nữa xảy ra(?).
Chuyện người ta dùng STT bắn nhầm vào
lưng nhau khi đi săn không còn hiếm, thậm chí là khá nhiều trong cộng đồng các
dân tộc Tây Bắc. Tuy nhiên, việc ấy đã được người dân “bình thường hóa” và
“luật tục hóa” ngay từ ngày STT ra đời. Người ta coi đó là “chuyện thường ngày
ở bản”. Khi xách súng lên rừng ai chả muốn nặng vai vác thú, nhược bằng không
thì vác người bị nạn về chịu nộp phạt bằng trâu, bằng bạc trắng; bất quá thì ở
đợ làm con nuôi, anh nuôi là cùng. Nhưng đấy là chuyện bất đắc dĩ thôi. Vào 21
giờ ngày 2/8/2003, một vụ nổ xảy ra tại nhà anh Lò Văn Biến khối 7, thị trấn
Mường Ảng, Tuần Giáo, Lai Châu đã gây tử vong cho anh này sau đó 6 ngày và làm
bỏng nặng cô con gái đang là học sinh THPT. Sau khi mở rộng điều tra, công an
phát hiện ra nguyên nhân nổ là do hòm thuốc STT của bà Nguyễn Thị Loan cùng
khối gửi nhờ nhà anh Biến. Không chỉ thế, bà Loan còn có 2 hòm nữa đang gửi tại
nhà anh Nguyễn Văn Kiên cũng ở khối 7, bên trong chứa 0,25 kg thuốc súng,
22.256 viên kích nổ STT và 400 viên đạn thể thao. Trước đó vào dịp tết nguyên
đán Quý Mùi và trong năm 2002, được biết nhà ấy đã từng để xảy ra 2 vụ nổ gây
bỏng nặng cho một người thân và một hàng xóm. Từ vụ nổ thuốc STT này khiến
người ta nhớ lại vụ nổ xe khách (Tam Đường, Phong Thổ) mang biển số 24N-0578
xảy ra tại Km2+300QL4D do 5 lạng thuốc nổ của tên Nguyễn Văn Dung thường trú
tại Bình Lư, huyện Phong Thổ làm 5 người chết, 36 người bị thương…
Súng tự tạo bao
giờ mới được “nghỉ chơi”?
Ngoài chuyện dùng STT làm vật hộ mệnh trong
việc buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma túy và dùng STT tự sát, ngộ sát, cuồng
sát… ra, STT còn tham gia hầu hết vào những cuộc tranh chấp đất đai, nhà cửa,
giải quyết hận thù cá nhân, gia đình, dòng tộc và thậm chí là cướp bóc, trấn
lột… rồi còn kéo theo cơ man những vụ nổ, cháy gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tính mạng con người và tài sản. Hơn lúc nào hết, người ta đã cảnh báo việc sử
dụng STT ngày nay có cái gì đó giống như sự tiềm tàng của một “hành động bạo
lực”. Bằng nỗ lực có thể, theo hướng dẫn của Nghị định số 17/CP ngày 23/12/1992
của Chính phủ về việc “cấp giấy phép sử dụng (GPSD) cho STT” và Nghị định 47/CP
ngày 12/8/1996 của Chính phủ về “Quản lý vũ khí, vật liệu và công cụ hỗ trợ”
lẫn Chỉ thị 09/CT-UB-CN ngày 19/9/1996 của UBND tỉnh Lai Châu về “Tổ chức thực
hiện Nghị định 47/CP của Chính phủ”, ngành Công an Lai Châu đã tiến hành kiểm
tra và thu giữ mỗi năm hàng trăm STT không có GPSD và hàng trăm STT có liên
quan đến các chuyên án ma túy, hình sự… đồng thời cũng tiến hành đăng ký cho
11.145 STT trên địa bàn toàn tỉnh. Thế nhưng trên đây mới chỉ là phần “chuyện
của người quản lý”, còn phía bà con - người đang sở hữu những “con vật giữ nhà
hay nổi giận” thì sao, khi mà mỗi GPSD cho 1 STT có thời hạn 1 năm với lệ phí
là 6.000đ do các trưởng công an huyện, thị ký cấp? Theo thiển ý, với người có
trách nhiệm và nghĩa vụ trước việc đảm bảo an toàn STT thì chuyện đã cấp GPSD
súng hay chưa cũng đều không mấy lo ngại. Còn lại, 6.000đ cho một lời hứa cam
kết là rất mong manh, vẫn biết các việc quản lý STT sẽ hiệu quả hơn khi “mọi sự
đã rồi”. Ấy là chưa kể đến số bà con nghèo khó ở vùng sâu, xa thì việc mỗi năm
một lần đổi giấy và mất 6.000đ với họ là chuyện “không gì vô lý hơn” bởi, ngay
việc đăng ký hộ khẩu cho bản thân họ mà lại là một lần cho cả cuộc đời họ còn
chẳng buồn làm, rồi đến kết hôn cũng chẳng cần đăng ký nốt(!).
Như vậy cho thấy việc sử dụng STT dù
quản lý được hay chưa quản lý được cũng vẫn là nỗi ám ảnh tứ bề. Để công tác
quản lý STT thêm chặt chẽ, ngày 14/8/2001, Thường trực Đảng ủy Công an tỉnh Lai
Châu đã phát đi bản thông báo nhanh số 147/TB-ĐU gửi tất cả các chi bộ trực
thuộc, yêu cầu “tiến hành thu hồi tất cả các loại vũ khí không có GPSD và tổ
chức ký cam kết đảm bảo an toàn tuyệt đối với người sử dụng STT…”. Tuy nhiên,
với những gì vẫn xảy ra xung quanh việc sử dụng STT, Bộ luật hình sự nên thêm
một chương về việc “nghỉ chơi” luôn đối với loại “vũ khí tùy ý” này.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét