Phóng sự
Một
ngày tháng 9/1979, có 2 chuyến xe chở 54 hộ nông dân nghèo thuộc xã An Khê
(Quỳnh Phụ, Thái Bình), lên xã Chiềng Sinh huyện Tuần Giáo xây dựng kinh tế
mới. Theo kế hoạch ban đầu, công việc của họ là sản xuất lúa giống, làm ngói,
nung vôi và lập trang trại chăn nuôi. Tuy nhiên sau 29 năm, những gia đình
nghèo ấy đang sống rất chật vật và một số người phải làm những việc không phải
“kinh tế mới”...
Cuộc an cư nhọc
nhằn
Rời Thái Bình với những chiếc tay nải
nhẹ bỗng, sau mấy ngày ăn đường ngủ núi, cuối cùng họ cũng đến được “địa chỉ
vàng” bấy lâu hằng ao ước để thoát cảnh đồng trũng nước sâu. Ban chỉ đạo “Xây
dựng kinh tế mới” nhanh chóng phối hợp với chính quyền địa phương, cắm đất tạm,
làm nhà tạm cho 54 hộ dân quây quần cũng tạm ở hai bờ con suối Trâu Chết (thuộc
bản Chiềng An, xã Chiềng Sinh bây giờ). Trước khi được chia làm ba đội: Sản
xuất giống, ngành nghề (làm ngói, nung vôi) và chăn nuôi, thì nhà nhà túa ra
quốc lộ 279 tìm kế sinh nhai. Nhưng đường 279 bấy giờ gập ghềnh, người xe thưa
thớt chẳng có lấy một cơ hội kiếm cơm, nên họ lại phải quay về, theo người dân
bản địa phá rừng mà ăn - một việc không ai muốn khi đưa họ đến.
Đợi mãi và rồi cái ngày có cơ hội làm
giàu cũng đến. Vài lò ngói, lò vôi được dựng lên, cùng lúc với dăm thửa ruộng
được quy hoạch theo dạng cho mượn. Trong khi tinh thần lao động của những người
nhân danh đi kinh tế mới bốc cao ngùn ngụt, thì sản xuất vẫn chỉ là bước đầu
thử nghiệm. Nhiều người lấy làm lo lắng cho sự bấp bênh, nhưng chẳng ai dám lên
tiếng. Cuối cùng nỗi lo thành hiện thực, khi mà chỉ vài năm sau tất cả nỗ lực
của họ đều tới đích... phá sản. Nằm lọt vào giữa vùng quê nghèo, chẳng mấy ai
có tiền xây nhà mà mua ngói mua vôi. Niềm hy vọng cuối cùng là cung cấp sản phẩm
cho thị trường thị trấn Tuần Giáo cách đó những 6km đèo dốc quanh co, khâu vận
chuyển hết sức khó khăn. Chăn nuôi không thành, làm lúa giống cũng chỉ được vài
vụ, đã thế lại còn nạn trộm cắp đe doạ cướp đi bát cơm vốn đã chả dám đơm đầy.
Cái cảnh “con chung” chẳng ai buồn nuôi, cộng thêm sự đói kém chạy ăn từng bữa,
vậy là cả 54 gia đình mạnh ai nấy no, mỗi hộ một đường... sống dở.
“Khổ quá!”
Vào năm 1990, sau khi biết những người
con quê hương đang gặp khó khăn vất vả nơi xứ người, một chuyến xe chở đoàn cán
bộ tỉnh Thái Bình lên thăm, họ mang theo tham vọng là đánh giá lại hiệu quả đợt
đưa nhân dân đi làm kinh tế mới. Lúc trao cho mỗi hộ một phần quà mang đậm
phong vị cố hương gồm 1kg cá khô và một gói bánh cáy, nhiều người ôm nhau và để
lại những giọt lệ trên đôi vai áo bạc. Một cán bộ trong đoàn đứng lên xin lỗi
và nghẹn ngào xin rút lại quyết định cách đó 11 năm, ông bảo: “Gia đình nào có
ý định quay về, quê hương sẽ nhập khẩu và chia ruộng lại”. Được lời như cởi tấm
lòng, hơn một năm sau có 22 hộ vừa quay về quê, vừa bỏ đi lập nghiệp ở vùng
khác. Năm 2000, 28 hộ dân “kinh tế mới Thái Bình” còn trụ lại đã đệ đơn xin
tách khỏi Tà Cơn, thành lập bản Chiềng An với tổng số 44 hộ dân, trong đó có 16
hộ là người dân tộc Thái đan xen vào quần cư không lương, không ruộng, không
gia súc và không nghề nghiệp của dân “kinh tế mới”. Con đường kiếm sống chính
của những người tiên phong một thời là ra thị trấn Tuần Giáo gặp việc gì làm
việc đó: hàng xay, hàng xáo, gánh nước, bổ củi... chỉ mong sao kiếm được vài
cân gạo mỗi ngày.
Theo chỉ dẫn của một người quen, chúng
tôi ghé thăm cơ ngơi tương đối “xanh” của ông Chu Văn Các - một người trong
đoàn quân “kinh tế mới” năm nào. Nếu cứ nhìn vào mã ngoài: 500m2 ao, 5,3ha rừng (trong đó có 800
gốc quế, loại cây 15 năm trước được tiên lượng mỗi cây là 1 chỉ vàng) ngày ngày
phủ một màu xanh no mắt xuống căn nhà gỗ lợp ngói khang trang, trong có đồ đạc,
tiện nghi khá ổn... thì không ai bảo gia đình ông là hộ nghèo. Nhưng khi tìm
hiểu mới biết rừng là của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuần Giáo (tiền thân là Lâm
trường Tuần Giáo), ao cũng của Ban Quản lý và đất ở cũng của Ban Quản lý nốt.
Thấy có khách, ông Các vác chài ra ao quăng mãi mà chẳng được con gì; rồi ông
giơ cái giỏ không, miệng phân bua có phần tội nghiệp: Tận dụng nước suối Trâu
Chết (người Thái gọi là huổi Quái Tai), nhưng cứ mỗi vụ rét là cá lại chết như
chính cái tên gọi của dòng suối. Chẳng qua nuôi là do tiếc công nắn dòng, đắp
đập, nuôi để thi thoảng có tí chất tanh tiếp mấy đứa bạn của con. Bà Nụ - vợ
ông Các, nói trong ấm ức: “Chú tính nuôi cá mất nhiều hơn được cũng vì con. Làm
cái nhà này cũng vì con mà phải bóp bụng chơi hội thóc hơn 10 năm trời. Trông
rừng chẳng có thù lao đâu nhưng trông để được mượn đất mà ở. Đất này, ao này,
rừng này là của xã, xã cho Ban Quản lý mượn, Ban Quản lý lại cho chúng tôi
mượn. Xin xã cấp đất, xã bảo Ban Quản lý mượn rồi... Trước đây đất rẻ thì không
có tiền mua, hy vọng trồng 800 cây quế, mười năm sau bán đi được ngót trăm cây
vàng, về quê để đổi đời. Nào ngờ tiền của, công sức bỏ ra suốt 15 năm qua là
không kể xiết mà nay bán dóc chắc được 15 triệu đồng, mấy tay chủ thầu xây dựng
vào trả 40.000/cây để làm cốp pha. Vợ chồng lấy nhau mấy chục năm trời, mà đến
giờ cũng không kiếm nổi mảnh đất để tá túc thân già. Thật khổ ơi là khổ!”.
Cùng cảnh ngộ với nhà ông Các còn ba
nhà nữa, họ chẳng có gì ngoài thời gian đổ cả nước mắt và máu xuống suối Trâu
Chết! Nhất là từ khi nạn ma túy tràn qua, khiến 1/3 số gia đình có con bập vào.
Đứa chết thì thôi thân làm thân chịu, đứa còn cũng vất va vất vưởng như bóng
quỷ hồn ma... Nhà ông Các có 5 đứa con cũng đứa ở đứa “đi” như thế. Người ta
thường nói “đẻ con để cậy”, nhưng nhiều gia đình ở Chiềng An lại “đẻ con để...
nợ”...
Sự bứt phá đơn độc
Năm 1993, chuyện ông Ngô Quang Đợt
thuê hàng ngàn mét đất để đào ao thả cá, đã một lần nữa khơi dậy ý chí lập
nghiệp cho người dân Chiềng An. Tuy nhiên ông Nguyễn Duy Nhật - trưởng bản, đã
không “chạy đua” vì lý do địa hình dốc, đắp ao vô cùng tốn kém cộng với sự khắc
nghiệt của con nước, khó có thể hi vọng gì được. Và dường như tiên liệu trên là
đúng. Vì đến nay, ngoài một vài loại cá quen thuộc mè, rô, trôi, trắm... đì đẹt
cho thu 2-3 triệu đồng/ao/năm, thì không có hộ nào phát triển được các loại đặc
thủy sản khác như ba ba, lươn, ếch... chí ít là con giống.
Ông Nhật chọn con lợn, nhưng do thiếu
vốn, thiếu giống và thiếu kiến thức khoa học, nên thu nhập cũng không hơn gì
con cá. Bắt đầu từ năm 2006, ông đọc báo, nghe đài và xem đến nghiện chương
trình “Bạn nhà nông” của VTV để trở thành người sản xuất giỏi. Mỗi năm ông xuất
chuồng hàng chục tấn lợn, thu lãi trên 50 triệu đồng chỉ với 400m2 khuôn viên. Hằng tháng ông tiết kiệm
được ngót triệu bạc tiền chất đốt, thắp sáng nhờ cái hầm biôga mà ông áp dụng.
Ông Nhật cho biết, hiện 44 hộ ở Chiềng An chỉ có 4 hộ nuôi lợn và áp dụng kỹ
thuật mới, 40 hộ còn lại dù có muốn cũng không được vì thiếu vốn. Mỗi năm Nhà
nước phân bổ cho cả bản vay được 10 - 15 triệu đồng tiền xóa đói giảm nghèo,
chia đều ra thì chỉ đủ mua mấy mái gà. Cả bản không đủ điều kiện vay vốn kinh
doanh của ngân hàng vì không hộ nào có sổ đỏ, ra thị trấn Tuần Giáo vay tư nhân
thì không cần sổ đỏ sổ đen làm gì cho rách việc, nhưng lãi suất 3 -4% thì vái
cả nón mà về. Nhiều người không dám ốm, mà có trót ốm cũng cố gắng để không đi
viện. Kiến nghị lên trên xem xét cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí nhưng không
được, vì lý do phải có ít nhất 2/3 số hộ nghèo mới đủ tiêu chuẩn. Có người chua
chát bảo: “Giá mà bản mình có thêm vài hộ nghèo thì tình hình lại hay hơn cũng
nên”(?).
Ngày lại ngày, Chiềng An đang vật lộn
với cuộc an cư trên mảnh đất ở nhờ sống gửi. Lúc ông mặt trời đỏ lựng như hòn
lửa từ từ chìm xuống dãy núi mờ xa, chúng tôi khước từ những lời mời mọc chân
tình của người Chiềng An, để đi như trốn chạy ra thị trấn Tuần Giáo. Dọc đường,
chúng tôi không chất lên xe mà chất vào lòng nỗi ám ảnh khôn nguôi, về những
con người đang lam lũ, bơ vơ nơi vùng “kinh tế mới”...
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét