28 tháng 2, 2013

VÀNG CHINH SÁNG


Phóng sự


Cũng như bao người đã từng đến Chinh Sáng và rời Chinh Sáng; lần này quay lại không phải để tìm người đi tìm vàng như chín năm trước; mà là đi tìm cảm xúc về một bộ mặt mới, vốn lừng danh của “chốn giấu vàng”…

Chinh Sáng - một thời tổ quỉ
Vào giữa năm 1986, một người thợ sơn tràng, dân tộc Xạ Phang (gốc Hoa) tên Lý Long Phùng tình cờ phát hiện ở mãi 2.157m chót vót trên đỉnh núi Pu Sam Cáp cao quá nửa tâng trời, thuộc địa phận xã Khuôn Há, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, có vàng. Vậy là tiếng đồn theo gió bay xa, chưa đầy hai năm sau, dòng người như nước cuốn từ mọi miền đất nước đổ về, ký thác vận may vào đất rừng Chinh Sáng. Theo thống kê chưa đầy đủ của chính quyền sở tại, thời kỳ cao điểm (1991 - 1994), số người đến cư trú trái phép ở Chinh Sáng nhiều gấp… năm lần dân số của cả Khuôn Há cộng lại. Nói cho công bằng hơn, trong số họ, hầu hết là những người dân lao động chất phác, cần cù nhưng đã qua tam tứ bận phiêu du và nhị thập phần chìm nổi mà vẫn “cơm chẳng đầy, áo chẳng ấm”; tìm về thử thêm một lần cho chót. Còn lại, chỉ tính trên dưới 10% cũng đã có hàng ngàn tay “anh chị” lỡ thời tội tù, vượt trại; các đầu cơ, con nghiện v.v và v.v… đổ về đây vừa giấu thân, vừa “hành nghiệp”. Nói chung, những thành phần hảo hán ấy mang về Chinh Sáng một lối sống găngxtơ của “xã hội đen”, lối sống dựa trên căn bản của một thứ “luật rừng”, luật “tự xử”; và luật đó chỉ nằm trong tay những kẻ nhiều tiền, vàng và… đệ tử(!)
Ở bãi vàng, các ông chủ hầm, chủ lò… được gọi chung là “bưởng”. Và bưởng là người có quyền pháp tối cao và duy nhất. mỗi bưởng là một “bạo chúa” cai trị một lãnh thổ riêng, chẳng cần giống kẻ nào, đặc biệt đó lại là nhân tính, nhân đạo. Ở Chinh Sáng có một ông chủ lò duy nhất là một thương nhân, người lầm lỡ tử nạn, ông mua liền mấy tạ chè khô ướp xác, cho người đưa về quê mai táng; lập tức bị các bưởng khác “hỏi thăm” vì tội “mở đường cho hươu chạy”(!). Bưởng quản lý đàn em bằng tiền, bằng ma túy và gái điếm; cai trị lao dân bằng “bảo kê”, “cấm vận” và bằng những cú đấm nốc ao của bọn đánh thuê luôn được chủ khuyến khích, sủng ái bằng sự thăng thưởng chu đáo và hậu hĩnh. Và dĩ nhiên người lao động sống thì kêu chẳng tới trời mà chết cũng chẳng nằm thấu đất, luôn phải chịu cảnh chim lồng cá chậu và cũng luôn giật mình bởi những cú “úp sọt” mỗi khi có vấn đề, thì không muốn và không bao giờ muốn mình là điểm chết để các ông bưởng ngắm vào (kể cả vi phạm lẫn trúng mánh). Tất nhiên để đủ khôn, mỗi người trong số họ đều đã trải qua hàng loạt những bài học để đời: Một kẻ bòn vàng đi ngang, lỡ mắt nhìn vào máng vàng của bưởng, ngay lập tức bị lãnh trọn một nhát cuốc vào gáy để kẻ “tình báo” ấy vĩnh viễn không thể hé lộ; đấy là cách, vỉa vàng khỏi bị bưởng khác đào chặn ngang phía trước, hoặc địa đạo đã không còn vàng nhưng các bưởng vẫn đổ vàng xuống đất, đãi lại để chứng minh và bán (có những bưởng liên tục lừa bán hầm không, được hàng bao tải tiền; có ông chủ phải bỏ ra cả trăm cây vầng đê mau một cái hầm…đất). Có những người được tin vợ đẻ, mẹ mất… không còn dủ sức để đáp ứng nhu cầu của chủ, lừa cơ đêm xuống luồn rừng để chạy trốn, liền bị bọn “đồ tể” săn bắt cho kỳ được hòng tranh công, lĩnh thưởng vài chỉ thuốc phiện hay một đêm.. chơi gái(!). Kẻ tội đồ kia, nhẹ thì bỏ đói dưới lòng địa đạo sâu 90m, ăn ngang đến 170m; còn như nặng (ôm theo tiền, vàng…) thì khỏi cần “xét xử” mà chỉ việc tịch thu, rồi… đập chết!
Theo thiếu tá Vũ Xuân Việt - Trạm trưởng trạm công an vùng mỏ - thì trước đây, ít nhất một năm cũng có 14 -15 vụ chết người và vài chục vụ bị thương do sập hầm, cây đổ, núi lở, đá lăn và do ẩu đả, thanh toán lẫn nhau… Vì thế mà chỉ cần đếm sơ ở những khu nghĩa đại tập trung từ bãi 1 đến bãi 7 cũng đã có vài chục nấm, hầu hết là vô danh, vô chủ; quanh năm lạnh ngắt vì ngoài cỏ dại và dấu chân muông thú thì chẳng có ai lai vãng - ấy là chưa kể những trường hợp mất tích, mất xác do thú đào mả tha đi và do vùi lấp giấu giếm ở một khe kẹt nào đó trong núi, trong rừng.
Tôi chợt nhớ câu nói của “Sung 5 ngựa”, chín năm về trước (tên thật là Trương Văn Sung quê ở Hà Bắc, tạm trú tại thị tứ Bình Lư, Phong Thổ, là người buôn hàng ngựa từ Bình Lư vào Chinh Sáng nên dân chợ gọi là Sung 5 ngựa). Khi tôi cùng anh bạn người Sơ La vượt qua 246km đường “rang đỗ” từ thị trấn huyện lỵ Điên Biên (cũ) vào tới thị tứ Bình Lư, có ý nhờ Sung 2 con ngựa để cưỡi vào Chinh Sáng: “Ở đây chỉ có tiền, tiền là ơn huệ nhất và thông cảm nhất”. Vâng! Thôi thì dù sao cũng đã có cách giải quyết chứ có cho tiền cũng chẳng “cuốc” nổi 30km đường núi. Đã thế con đường mòn độc đạo vắt cheo leo mãi tận lưng mây cứ như hàng ngàn cái bẫy; qua cái này thở phào, gặp cái khác lại nín mà cầu nguyện. Đường khó thế tưởng vắng ngơ, ai ngờ đông cùng đông kịt; phương tiện chẳng gì khác ngoài những đôi vai trần và những bàn chân sơn dã ngậm sắt, ngậm đồng, sầm sập leo lên rồi lại ầm ầm tụt xuống. Một lần nữa tôi thấy, dù sao cũng vẫn là may khi còn được ngồi trên lưng ngựa; bằng không, không ngã đầu bươu, răng gãy vì xô đẩy bởi hàng ngàn tay cửu vạn càn lấn như xe ủi, thì cũng lòi ruột dưới móng của nửa ngàn con “hung mã”. Có thế mới biết vì tiền, người ta sẵn sàng nhân 5 cộng 7 chút sức mọn của mình lên một cách gấp gáp, vội vã. Ngựa, người ta có thể chồng kê, chồng đống đến mức, con khỏe nhất cũng vài ba lần đột quỵ, một lần đột tử đã đành, đằng này người cũng vậy; để rồi đến khi xuống sức, chẳng cần ai rủ, người ta lại tìm đến những liều đoping hòng tăng sức lực thật nhanh để vừa hái vừa gặt ra tiền. Nhưng như thế mới là “chân lý sống”, là “sức làm việc” của vùng vàng(!). Rẻ thì pin đèn, đá lửa, bao tải, nilon, gạo, dầu, muối, mắm… đắt thì thuốc nổ, thuốc phiện, linh kiện máy móc (máy bơm, máy nổ, máy phát điện…) và cả những ả cave mắt gài dao, miệng giấu mật, sẵn sàng cho một… lấy mười. Không có họ, những thứ đó tự trên trời rơi xuống chắc…?
Hôm quay ra, tình cờ gặp lại anh bạn “thương súc”, tôi lấy làm ngạc nhiên khi Sung vào 5 ngựa mà ra thì tay không, thì chàng này còn ngạc nhiên hơn: Ơ hay, ông từ dưới đất chui lên chắc? Ngựa, ngựa là cái quái gì, là thịt, mà thịt một trong ra mua được ba ngoài, tội gì không giết. Với lại mấy con quỷ ấy “ngập” nặng quá, mỗi chuyến “thuổng” (đào) mất cả chỉ vàng, chẳng bõ”. Thế đấy, đến ngựa còn bị đầu độc, huống gì người; mà kể cũng lạ, ngựa gì mà hễ cứ ngửi thấy hơi thuốc phiện là bất chấp, kể cả thứ nước được múc lên từ lòng địa đạo (mùa khô rất hiếm nước) sền sệt, đỏ ngầu vẫn nín một hơi cho kỳ hết. Còn người nào chứ người Chinh Sáng thì… trên đời có tệ gì ở Chinh Sáng có tệ ấy: Cờ bạc, hút chích, mại dâm, chôm chỉa, thậm chí cướp bóc, tống tiền và giết người… Có những ông chủ một đêm “xóc” hết nửa cân vàng cốm, chơi gái hết hai lạng, thuê người hành sự hết một lạng, còn hút chích, một “bữa” mèng mèng cũng bằng tiền công của mười thằng cửu vạn. Có lão ông một nửa phần người đã thân tàn ma dại mà vẫn nuôi tới ba ả cave cho mình, cho đệ tử và làm “vật ngoại giao” với các ông trùm khác. Chả thế mà Chinh Sáng người ta gọi một cách kinh hồn là... “tổ quỷ”!
Ở Thị xã Điện Biên Phủ bây giờ, tôi có anh bạn là bộ đội kỹ thuật tên là Lưu Xuân Thủy, người Phong Thổ, nhập ngũ năm 1993, mỗi lần nói đến Ching Sáng vẫn còn rùng mình: “Sợ mình sa lầy trong cái “tổ quỷ” ấy, bất chấp con một, bà già mình xông thẳng lên Ban chỉ hủy quân sự huyện đăng ký cho mình nhập ngũ đấy”.
Chinh Sáng đã… sáng rồi!
Hôm nay vào lại Chinh Sáng, chẳng là gì cả, thậm chí chỉ như là một kẻ đi hoang tò mò; thì ngay lập tức bị Ban quản lý mỏ vàng mời ra khỏi khu vực an toàn. Mãi về sau mới được anh Bùi VĂn Kiện - một trong hai kỹ sư địa chất khai thác Ban quản lý mỏ vàng Chinh Sáng cho biết: Bắt đầu từ tháng 4.1999, sau khi đã căn cứ vào Luật khoáng sản Việt Nam và Quyết định số 1126/QĐ/DCKS của Bộ trưởng Bộ công nghiệp, UBND tỉnh Lai Châu ra Quyết định số 191/QĐ-UB-CN ngày 22/3/1999 phê duyệt đề án quản lý, bảo vệ và khai thác mỏ vàng Chinh Sáng; tiếp đó là Quyết định 220/QĐ-UB: “Cho phép Công ty Than Lai Châu được khai thác tận thu vàng, tại điểm mỏ Chinh Sáng, xã Khuôn Há - Phong Thổ”. Theo anh Kiên, từ ngày Công ty Than Lai Châu chính thức “tiếp quản” Chinh Sáng đến nay, không kể việc làm ăn có lãi, an ninh trật tự ổn định như… một lớp học. Với phương thức quản lý, làm việc trên cơ sở an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và… trong sạch, sẽ chẳng ai nghi ngờ gì vì ngay từ đầu bản sơ thảo đề án quản ký, bảo vệ, khai thác vàng đã cho thấy một đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo cơ bản về chuyên ngành địa chất mỏ, về kỹ nàng thăm dò tài nguyên và khai thác khoáng sản cộng với ý thức kỷ luật cộng với khả năng sáng tạo và kinh nghiệm trong điều tiết công việc đã biến Chinh Sáng - một bãi vàng ô hợp, hỗn độn và trái phép thành mỏ vàng Chinh Sáng, hơn một lần đi vào cung cách của công trường công nghiệp, hay ít nhất người dân bản địa muốn lên rừng Pu Sam Cáp hái nấm, tìm rau cũng không đến nỗi phải thình lình sấp mặt xuống để tránh mìn chùm, mìn trận… mạnh vì ai nấy nổ, to, nhỏ, ít, nhiều như ngày trước nữa. Cá nhân tôi, tuy chẳng còn lý do để mà tìm đến hàng của bưởng Bân sùi và bưởng Bảng bò, hai nhân vật “bạo chúa” một thời xuống đòn chọc mắt, chặt tay hòng tạo “uy” và tặng nhau những dị tật để đời - thì cũng lấy làm toại nguyện.
Đêm Chinh Sáng sao như tỏ hơn, trời đất bất giác gần lại nên không khí cũng trong trẻo và mát dịu. Ở mãi xa trên đỉnh núi, có tiếng tác của một con hoẵng cái (đực chẵn, cái lẻ) gọi bạn. Là người miền núi, ngay từ khi nhỏ tôi đã được nghe già bản nói: Hoẵng tác một tiếng sau không nghe súng nổ, ấy là điềm lành. Thực ra là sẽ chẳng có ai đi bắn cả, họ cũng giống già làng, họ cần những điều tốt đẹp. Và ở Chinh Sáng đêm nay cũng vậy, con hoẵng chẳng có lý do gì tác vọng vài tiếng rồi trốn. Nó đứng đó khẩn thiết cất cao tiếng gọi bạn đến tận 5 giờ sáng, giờ mà một lần nữa tôi rời Chinh Sáng ra đi; nhưng khác trước là lần này, tôi gửi lại đỉnh Pu Sam Cáp một cảm xúc mới, cảm xúc mà tôi đã nói cả ở trang viết.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét