Phóng sự
Cũng
như bao người đã từng đến Chinh Sáng và rời Chinh Sáng; lần này quay lại không
phải để tìm người đi tìm vàng như chín năm trước; mà là đi tìm cảm xúc về một
bộ mặt mới, vốn lừng danh của “chốn giấu vàng”…
Chinh Sáng - một thời tổ
quỉ
Vào
giữa năm 1986, một người thợ sơn tràng, dân tộc Xạ Phang (gốc Hoa) tên Lý Long
Phùng tình cờ phát hiện ở mãi 2.157m chót vót trên đỉnh núi Pu Sam Cáp cao quá
nửa tâng trời, thuộc địa phận xã Khuôn Há, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, có
vàng. Vậy là tiếng đồn theo gió bay xa, chưa đầy hai năm sau, dòng người như
nước cuốn từ mọi miền đất nước đổ về, ký thác vận may vào đất rừng Chinh Sáng.
Theo thống kê chưa đầy đủ của chính quyền sở tại, thời kỳ cao điểm (1991 - 1994),
số người đến cư trú trái phép ở Chinh Sáng nhiều gấp… năm lần dân số của cả
Khuôn Há cộng lại. Nói cho công bằng hơn, trong số họ, hầu hết là những người
dân lao động chất phác, cần cù nhưng đã qua tam tứ bận phiêu du và nhị thập
phần chìm nổi mà vẫn “cơm chẳng đầy, áo chẳng ấm”; tìm về thử thêm một lần cho
chót. Còn lại, chỉ tính trên dưới 10% cũng đã có hàng ngàn tay “anh chị” lỡ
thời tội tù, vượt trại; các đầu cơ, con nghiện v.v và v.v… đổ về đây vừa giấu
thân, vừa “hành nghiệp”. Nói chung, những thành phần hảo hán ấy mang về Chinh
Sáng một lối sống găngxtơ của “xã hội đen”, lối sống dựa trên căn bản của một
thứ “luật rừng”, luật “tự xử”; và luật đó chỉ nằm trong tay những kẻ nhiều
tiền, vàng và… đệ tử(!)
Ở
bãi vàng, các ông chủ hầm, chủ lò… được gọi chung là “bưởng”. Và bưởng là người
có quyền pháp tối cao và duy nhất. mỗi bưởng là một “bạo chúa” cai trị một lãnh
thổ riêng, chẳng cần giống kẻ nào, đặc biệt đó lại là nhân tính, nhân đạo. Ở
Chinh Sáng có một ông chủ lò duy nhất là một thương nhân, người lầm lỡ tử nạn,
ông mua liền mấy tạ chè khô ướp xác, cho người đưa về quê mai táng; lập tức bị
các bưởng khác “hỏi thăm” vì tội “mở đường cho hươu chạy”(!). Bưởng quản lý đàn
em bằng tiền, bằng ma túy và gái điếm; cai trị lao dân bằng “bảo kê”, “cấm vận”
và bằng những cú đấm nốc ao của bọn đánh thuê luôn được chủ khuyến khích, sủng
ái bằng sự thăng thưởng chu đáo và hậu hĩnh. Và dĩ nhiên người lao động sống
thì kêu chẳng tới trời mà chết cũng chẳng nằm thấu đất, luôn phải chịu cảnh
chim lồng cá chậu và cũng luôn giật mình bởi những cú “úp sọt” mỗi khi có vấn
đề, thì không muốn và không bao giờ muốn mình là điểm chết để các ông bưởng
ngắm vào (kể cả vi phạm lẫn trúng mánh). Tất nhiên để đủ khôn, mỗi người trong
số họ đều đã trải qua hàng loạt những bài học để đời: Một kẻ bòn vàng đi ngang,
lỡ mắt nhìn vào máng vàng của bưởng, ngay lập tức bị lãnh trọn một nhát cuốc
vào gáy để kẻ “tình báo” ấy vĩnh viễn không thể hé lộ; đấy là cách, vỉa vàng
khỏi bị bưởng khác đào chặn ngang phía trước, hoặc địa đạo đã không còn vàng
nhưng các bưởng vẫn đổ vàng xuống đất, đãi lại để chứng minh và bán (có những
bưởng liên tục lừa bán hầm không, được hàng bao tải tiền; có ông chủ phải bỏ ra
cả trăm cây vầng đê mau một cái hầm…đất). Có những người được tin vợ đẻ, mẹ
mất… không còn dủ sức để đáp ứng nhu cầu của chủ, lừa cơ đêm xuống luồn rừng để
chạy trốn, liền bị bọn “đồ tể” săn bắt cho kỳ được hòng tranh công, lĩnh thưởng
vài chỉ thuốc phiện hay một đêm.. chơi gái(!). Kẻ tội đồ kia, nhẹ thì bỏ đói
dưới lòng địa đạo sâu 90m, ăn ngang đến 170m; còn như nặng (ôm theo tiền,
vàng…) thì khỏi cần “xét xử” mà chỉ việc tịch thu, rồi… đập chết!
Theo
thiếu tá Vũ Xuân Việt - Trạm trưởng trạm công an vùng mỏ - thì trước đây, ít
nhất một năm cũng có 14 -15 vụ chết người và vài chục vụ bị thương do sập hầm,
cây đổ, núi lở, đá lăn và do ẩu đả, thanh toán lẫn nhau… Vì thế mà chỉ cần đếm
sơ ở những khu nghĩa đại tập trung từ bãi 1 đến bãi 7 cũng đã có vài chục nấm,
hầu hết là vô danh, vô chủ; quanh năm lạnh ngắt vì ngoài cỏ dại và dấu chân
muông thú thì chẳng có ai lai vãng - ấy là chưa kể những trường hợp mất tích,
mất xác do thú đào mả tha đi và do vùi lấp giấu giếm ở một khe kẹt nào đó trong
núi, trong rừng.
Tôi
chợt nhớ câu nói của “Sung 5 ngựa”, chín năm về trước (tên thật là Trương Văn
Sung quê ở Hà Bắc, tạm trú tại thị tứ Bình Lư, Phong Thổ, là người buôn hàng
ngựa từ Bình Lư vào Chinh Sáng nên dân chợ gọi là Sung 5 ngựa). Khi tôi cùng
anh bạn người Sơ La vượt qua 246km đường “rang đỗ” từ thị trấn huyện lỵ Điên
Biên (cũ) vào tới thị tứ Bình Lư, có ý nhờ Sung 2 con ngựa để cưỡi vào Chinh
Sáng: “Ở đây chỉ có tiền, tiền là ơn huệ nhất và thông cảm nhất”. Vâng! Thôi
thì dù sao cũng đã có cách giải quyết chứ có cho tiền cũng chẳng “cuốc” nổi
30km đường núi. Đã thế con đường mòn độc đạo vắt cheo leo mãi tận lưng mây cứ
như hàng ngàn cái bẫy; qua cái này thở phào, gặp cái khác lại nín mà cầu
nguyện. Đường khó thế tưởng vắng ngơ, ai ngờ đông cùng đông kịt; phương tiện
chẳng gì khác ngoài những đôi vai trần và những bàn chân sơn dã ngậm sắt, ngậm
đồng, sầm sập leo lên rồi lại ầm ầm tụt xuống. Một lần nữa tôi thấy, dù sao
cũng vẫn là may khi còn được ngồi trên lưng ngựa; bằng không, không ngã đầu
bươu, răng gãy vì xô đẩy bởi hàng ngàn tay cửu vạn càn lấn như xe ủi, thì cũng
lòi ruột dưới móng của nửa ngàn con “hung mã”. Có thế mới biết vì tiền, người
ta sẵn sàng nhân 5 cộng 7 chút sức mọn của mình lên một cách gấp gáp, vội vã.
Ngựa, người ta có thể chồng kê, chồng đống đến mức, con khỏe nhất cũng vài ba
lần đột quỵ, một lần đột tử đã đành, đằng này người cũng vậy; để rồi đến khi
xuống sức, chẳng cần ai rủ, người ta lại tìm đến những liều đoping hòng tăng
sức lực thật nhanh để vừa hái vừa gặt ra tiền. Nhưng như thế mới là “chân lý
sống”, là “sức làm việc” của vùng vàng(!). Rẻ thì pin đèn, đá lửa, bao tải,
nilon, gạo, dầu, muối, mắm… đắt thì thuốc nổ, thuốc phiện, linh kiện máy móc
(máy bơm, máy nổ, máy phát điện…) và cả những ả cave mắt gài dao, miệng giấu
mật, sẵn sàng cho một… lấy mười. Không có họ, những thứ đó tự trên trời rơi
xuống chắc…?
Hôm
quay ra, tình cờ gặp lại anh bạn “thương súc”, tôi lấy làm ngạc nhiên khi Sung
vào 5 ngựa mà ra thì tay không, thì chàng này còn ngạc nhiên hơn: Ơ hay, ông từ
dưới đất chui lên chắc? Ngựa, ngựa là cái quái gì, là thịt, mà thịt một trong
ra mua được ba ngoài, tội gì không giết. Với lại mấy con quỷ ấy “ngập” nặng
quá, mỗi chuyến “thuổng” (đào) mất cả chỉ vàng, chẳng bõ”. Thế đấy, đến ngựa
còn bị đầu độc, huống gì người; mà kể cũng lạ, ngựa gì mà hễ cứ ngửi thấy hơi
thuốc phiện là bất chấp, kể cả thứ nước được múc lên từ lòng địa đạo (mùa khô
rất hiếm nước) sền sệt, đỏ ngầu vẫn nín một hơi cho kỳ hết. Còn người nào chứ
người Chinh Sáng thì… trên đời có tệ gì ở Chinh Sáng có tệ ấy: Cờ bạc, hút
chích, mại dâm, chôm chỉa, thậm chí cướp bóc, tống tiền và giết người… Có những
ông chủ một đêm “xóc” hết nửa cân vàng cốm, chơi gái hết hai lạng, thuê người
hành sự hết một lạng, còn hút chích, một “bữa” mèng mèng cũng bằng tiền công
của mười thằng cửu vạn. Có lão ông một nửa phần người đã thân tàn ma dại mà vẫn
nuôi tới ba ả cave cho mình, cho đệ tử và làm “vật ngoại giao” với các ông trùm
khác. Chả thế mà Chinh Sáng người ta gọi một cách kinh hồn là... “tổ quỷ”!
Ở
Thị xã Điện Biên Phủ bây giờ, tôi có anh bạn là bộ đội kỹ thuật tên là Lưu Xuân
Thủy, người Phong Thổ, nhập ngũ năm 1993, mỗi lần nói đến Ching Sáng vẫn còn
rùng mình: “Sợ mình sa lầy trong cái “tổ quỷ” ấy, bất chấp con một, bà già mình
xông thẳng lên Ban chỉ hủy quân sự huyện đăng ký cho mình nhập ngũ đấy”.
Chinh Sáng đã… sáng rồi!
Hôm
nay vào lại Chinh Sáng, chẳng là gì cả, thậm chí chỉ như là một kẻ đi hoang tò
mò; thì ngay lập tức bị Ban quản lý mỏ vàng mời ra khỏi khu vực an toàn. Mãi về
sau mới được anh Bùi VĂn Kiện - một trong hai kỹ sư địa chất khai thác Ban quản
lý mỏ vàng Chinh Sáng cho biết: Bắt đầu từ tháng 4.1999, sau khi đã căn cứ vào
Luật khoáng sản Việt Nam và Quyết định số 1126/QĐ/DCKS của Bộ trưởng Bộ công
nghiệp, UBND tỉnh Lai Châu ra Quyết định số 191/QĐ-UB-CN ngày 22/3/1999 phê
duyệt đề án quản lý, bảo vệ và khai thác mỏ vàng Chinh Sáng; tiếp đó là Quyết
định 220/QĐ-UB: “Cho phép Công ty Than Lai Châu được khai thác tận thu vàng,
tại điểm mỏ Chinh Sáng, xã Khuôn Há - Phong Thổ”. Theo anh Kiên, từ ngày Công
ty Than Lai Châu chính thức “tiếp quản” Chinh Sáng đến nay, không kể việc làm
ăn có lãi, an ninh trật tự ổn định như… một lớp học. Với phương thức quản lý,
làm việc trên cơ sở an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và… trong sạch, sẽ chẳng ai
nghi ngờ gì vì ngay từ đầu bản sơ thảo đề án quản ký, bảo vệ, khai thác vàng đã
cho thấy một đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo cơ bản về chuyên ngành địa
chất mỏ, về kỹ nàng thăm dò tài nguyên và khai thác khoáng sản cộng với ý thức
kỷ luật cộng với khả năng sáng tạo và kinh nghiệm trong điều tiết công việc đã
biến Chinh Sáng - một bãi vàng ô hợp, hỗn độn và trái phép thành mỏ vàng Chinh
Sáng, hơn một lần đi vào cung cách của công trường công nghiệp, hay ít nhất
người dân bản địa muốn lên rừng Pu Sam Cáp hái nấm, tìm rau cũng không đến nỗi
phải thình lình sấp mặt xuống để tránh mìn chùm, mìn trận… mạnh vì ai nấy nổ,
to, nhỏ, ít, nhiều như ngày trước nữa. Cá nhân tôi, tuy chẳng còn lý do để mà
tìm đến hàng của bưởng Bân sùi và bưởng Bảng bò, hai nhân vật “bạo chúa” một
thời xuống đòn chọc mắt, chặt tay hòng tạo “uy” và tặng nhau những dị tật để
đời - thì cũng lấy làm toại nguyện.
Đêm
Chinh Sáng sao như tỏ hơn, trời đất bất giác gần lại nên không khí cũng trong
trẻo và mát dịu. Ở mãi xa trên đỉnh núi, có tiếng tác của một con hoẵng cái
(đực chẵn, cái lẻ) gọi bạn. Là người miền núi, ngay từ khi nhỏ tôi đã được nghe
già bản nói: Hoẵng tác một tiếng sau không nghe súng nổ, ấy là điềm lành. Thực
ra là sẽ chẳng có ai đi bắn cả, họ cũng giống già làng, họ cần những điều tốt
đẹp. Và ở Chinh Sáng đêm nay cũng vậy, con hoẵng chẳng có lý do gì tác vọng vài
tiếng rồi trốn. Nó đứng đó khẩn thiết cất cao tiếng gọi bạn đến tận 5 giờ sáng,
giờ mà một lần nữa tôi rời Chinh Sáng ra đi; nhưng khác trước là lần này, tôi
gửi lại đỉnh Pu Sam Cáp một cảm xúc mới, cảm xúc mà tôi đã nói cả ở trang viết.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét