Mỗi sáng, sau tiếng gà rừng nhắc canh
vọng từ trên núi Pắc Bút xuống, hòa vào nhịp trống trường vọng lên từ thung
lũng Động Hoa, cũng là lúc chị Mung sập cửa, khóa nhốt “hòn” vàng một cách cẩn
thận. Trước khi đi, chị không quên dừng lại, áp tai lên vách. Trong khoảng
không lờ nhờ, tĩnh tại của ba gian nhà vách đất vọng ra tiếng vo giấy, tiếng xô
dát giường… Đôi khi là giọng nhạc vàng buồn ảo não: “Đời
là vạn ngày sầu, biết tìm vui chốn nào…” (Hảo
không mặc được áo, quần phải may rộng hoặc xé ống ra mới mặc được).
“Hòn”
vàng mà chị Mung hết đỗi nâng niu ấy là cậu con tật nguyền Quàng Văn Hảo, mà
không khi nào chị nỡ bỏ lại nhà mỗi ngày. Nhưng, vì cuộc sống, chị đành ngập
ngừng bước xuống dốc ngõ dựng như con đường mòn lên núi Bút. Chuỗi âm thanh
thân thuộc ấy, cả năm theo chân chị vượt sang bên kia bờ suối Đông, rồi thắt
nút lại trong lòng chị suốt những buổi chân ngập ruộng. Tôi biết Hảo dịp cuối
năm 2006, cùng người bạn đi làm từ thiện. Cái cảm giác ư ứ, cay cay trong cuống
họng không đơn giản như lúc nghe nữa, mà là sốc. Tôi sốc trước hài nhân dị kỳ,
trần truồng, úp vó và vo vún, như bị vít chặt xuống chiếc giường thô mộc, rệu
rã. Một hình “nhân lũa” xù xì, gân guốc và cứng ngắc. Duy có cái miệng là còn
cử động.
Tự
lúc sinh ra, cái miệng ấy đã trở thành vũ khí - một thứ vũ khí tồn sinh duy
nhất mà Hảo được ông trời ban cho chăng?
- Em muốn nói, hát, vẽ, viết thật
nhiều, để làm vui cho cõi buồn dài thê thiết của em.
Tôi vốn lém lỉnh mà còn như bị đánh thuế,
không thể thốt lên dù chỉ vài lời thô vụng. Quả thế, trước cái miệng như có
linh khí bốn phương ấy, tôi sợ cách nói phóng túng chạm vào những khẩu xương
xẩu kia, sẽ khiến Hảo đau mất. Trước khi chứng kiến Hảo làm, phải kể đến ăn đã.
Một cuộc “thực” chật vật và thảm hại. Một mình một đĩa, để lên giường, Hảo tự
vục mặt xuống mà hớp, mà nuốt. ăn thôi mà như một ván vật tự do. Hảo dường như
không thắng nổi cái khúc “thực vật” từ cổ mà phụ thuộc vào mẹ, đặt ngửa là phải
ngửa, bắt sấp thì sấp đến dập mặt dập mày. Trên lưng, nốt muỗi rừng đốt dày như
cái ghẻ...
Năm
1989, một sự kiện đã gây thất vọng cho đám thanh niên trong bản. Cô thôn nữ
Quàng Thị Mung có nước da trắng như cánh hoa ban, tóc đen như than gỗ thón và
giọng hát mượt mà như tiếng chim chí – ca mà họ ngày đêm mơ nhớ đi lấy chồng.
Chồng Mung là một thanh niên Thái tráng kiện và hoạt tháo. Các bậc lão niên có
con gái ở bản Đông, ở thị trấn Tuần Giáo và ở cả ba Quài đều ước “giá mà bắt
được nó làm rể”. Còn các cô gái thì ghen tị và xem như Mung là số hoa rơi ang
nước xông, trâu lạc chuồng phìa, chuồng tạo…
Mùa
ban ngậm nụ, đôi vợ chồng trẻ vai kề vai, bước sóng bước đi khai khẩn “kinh tế”
mới. Hoa ban nở rộ họ lại tay trong tay đi gieo hạt bông, để khi gió bấc về sẽ
khâu những chiếc đệm êm, tấm chăn dày tặng bố mẹ. Ban vào quả, rồi hạt ban rụng
xuống, họ dắt nhau trồng vừng, trỉa lúa. Đến khi hạt ban nảy mần thì họ làm
xên, báo với ải êm rằng đã có giọt máu con con trong bụng. Cái ngày măng đắng
thành cây vầu, hoa gianh, hoa lau theo vai về đầy sàn, đầy pơn cũng đến. Cơn
vượt cạn giữa mùa bấc gào rú càng khiến chị lên cơn giần giật. Một hài nhi dị
dạng với đôi tay teo tóp, cứng đơ, trong tư thế quắp chặt lấy ngực. Chân trái
như cái vạy bò cắm ngược về hậu môn. Còn chân phải dựng ngược qua vai nhưng một
chiếc cành cây khô khúc khuỷu. Chồng bỏ đi uống rượu, người ở lại khuyên chị
lìa đứa con một thời dị đoan hà khắc cho rằng “trong nó có con ma ở”…
Nhìn
vào hai con mắt rực sáng của con, chị đã vượt qua dị nghị, vượt qua cả sự khiếm
khuyết về thiên chức. Nhưng, từ ngày có Hảo cuộc sống gia đình lâm vào cảnh sa
sút nặng nề. Tinh thần do tín ngưỡng dân gian không dễ gì chấp nhận. Vật chất
vì cuộc sống mấy nhân khẩu trông cả vào đôi vai người chồng, khiến người đàn
ông lý tưởng một thời gã khuỵ. Mặc dù, sau đó chị Mung đã đẻ cho anh cậu con
trai nữa khỏe mạnh, tươi tắn nhưng vẫn không giữ nổi đôi chân và cái đầu đựng
đầy ý niệm chạy trốn. Từ đó, người mẹ có số gà lồng, chim cảnh từng đêm ngồi
bên con nghe nó khóc và nhìn nó lớn trên hết manh chiếu này đến manh chiếu
khác. Càng đói khổ, chị càng suy sụp bao nhiêu thì Hảo càng vươn lên mạnh mẽ
bấy nhiêu. Từ sáng tới tối, từ tối tới đêm phải mang con bên nách, trên lưng
cũng nhanh chóng qua đi. Ngoài ba tuổi, Hảo đã ở nhà một mình, tự làm một số
việc như ăn, hay ghé phần hậu môn xuống đất để cuối ngày mẹ về dọn… Thảng hoặc
vài bữa, Hảo được gửi lên nhà bác. Có người anh họ chạc tuổi Hảo đang đi học
lớp một. Kỳ tích bắt đầu phát lộ từ đấy. Mỗi khi nghe anh đánh vần, Hảo dỏng
đôi tai nơi bẹp dí xó nhà lên nghe không sót âm nào. Về nhà, Hảo đòi mẹ bảng
chữ cái. Chị Mung thương con một thì buồn hai ba. Giá như nó lành lặn, giờ này
đang tròn miệng O, A trên lớp thì phúc khôn xiết… Nhưng phận con chị thế, nó
khỏe mạnh, không khóc quấy, để chị yên tâm nhốt ở nhà là tốt lắm rồi!
Cứ
thế, mỗi lần con hỏi tên đồ vật, cách ghép âm, rồi ý nghĩa của từ… đều được chị
trả lời con qua loa cho xong trong nỗi niềm cơm áo. Đến khi Hảo 10 tuổi, một
ngày chị Mung ốm nằm nhà bỗng nhìn thấy những bài hát được tô chép cầu kỳ;
những bức ký họa bút chì vẽ tĩnh vật, con gà, con trâu thả bước trên đường
chiều… Chị rất lo sợ. Ai đã đến, đã quen và cho con chị những thứ chỉ được làm
ra từ đôi tay tài hoa? Chị lo một cuộc cà gạ bất lợi nào đấy, cho tới khi Hảo
nói là do Hảo làm, thì chị lại hết đỗi ngạc nhiên. Lần chị mua vở và bút chì,
Hảo đã bật khóc quăng đi khi không thể điều khiển được. Vậy mà… Chị bỏ ăn, bỏ
làm để khảo nghiệm con. Mắt chị bừng lên khi thấy những đường nét điêu luyện
thành mây, thành nước, thành bóng cây đổ dài bên bờ suối... lại được vẽ ra từ
miệng con trai. Xong, Hảo còn cắn cây kéo cắt tách bức tranh ra tặng mẹ. Chị ôm
chầm lấy con. Hai mẹ con cùng khóc. Từ nét chữ đầu tiên đến đọc thông viết thạo
Hảo phải đánh đổi suốt bốn
năm ròng!
Giọt
nước mắt người mẹ thấm vào hạt thóc, vào miếng vá lệch màu trên vai áo, vào cả
tấm lưng chi chít nốt muỗi của con… đã không uổng phí. Trước đây, mỗi lần nghe
con hát nhạc vàng mượt mà như một nghệ sĩ hát rong, chị đã mừng, mặc dù không
muốn những ca từ buồn day dứt ấy ngự trị trong tâm hồn con trai như một thứ vi
rút. Chị có hay đâu, cõi buồn dài thê thiết vẫn nhốt Hảo đã biến em thành niềm
đam mê mải miết. Qua kẽ vách, thoáng thấy đứa trẻ cưỡi trâu ngang ngõ đã có ngay
một bức tranh giống như… chụp. Cả viết nữa. Hảo viết như thể để luyện nết người
vậy. Những trang viết “chế bản” như những trang báo tường, cầu kỳ hoa lá, vân
được chép lại từ… chí nhớ như thế.
Hảo
nói với tôi trong đăng đắng nhạc vàng:
- Giá em có thể vẽ tranh hay viết chữ
để bán lấy tiền phụ cặp cho mẹ.
Tất
cả cũng bởi cái nghèo. Mảnh giấy nháp tập viết, mẩu bút chì cùn, vài trang báo
rách bẩn... đều do cậu em trai Hảo nhặt nhạnh trên đường đem về cho anh. Ngoài 400 ngàn tiền trợ cấp cho Hảo
mỗi tháng, cả nhà chỉ còn biết trông chờ mấy trăm mét ruộng. Những năm mất mùa,
khoản thu cố định ấy lại dồn cả về phía vai người mẹ. Chị Mung thường đi may
thuê ngoài thị trấn lấy mấy trăm ngàn một tháng. Như bứt bớt nỗi buồn vô tận,
Hảo quyết tâm:
- E thi “chữ Việt đẹp” cái đã (Giải do
Bộ GD - ĐT và Báo Công an nhân dân phối hợp tổ chức lần thứ nhất, năm học 2008
– 2009). Nếu đoạt giải sẽ dặm lại mái nhà. Nhưng mà khó lắm, các bạn viết bằng
tay, còn em viết miệng, làm gì có hoa tay nào.
Nhìn
những nét “chữ Việt đẹp” mà Hảo thể hiện trong bài thi, đủ thấy em gửi cả cuộc
sống của mình vào đó. Tôi thầm cầu mong cho bài thi ấy – bài thi mà Hảo không
thể điền gì vào danh mục lớp, trường, tên cô chủ nhiệm, số điện thoại gia đình…
ở phần thông tin thí sinh, sẽ được đánh giá. Nếu thế thật, sẽ là cơ sở cho một
cuộc vượt thoát mà em đang xây cho mình ở phía trước. Được biết, giải “chữ Việt
đẹp” có cả thảy 261.958 bài đến từ mọi miền đất nước, trong đó 2.313 bài được
chọn vào sơ khảo với mục đích “luyện nét chữ, rèn nết người” và lên án “phong
trào” làm bẩn chữ quốc ngữ: “Thư pháp chữ Quốc ngữ”... Tổng giá trị giải thưởng hơn 140 triệu đồng… Học sinh khuyết
tật, dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa sẽ được nhận phần thưởng riêng. Hảo
đang chờ cái riêng mà em phấn đấu bằng cả tâm hồn và thể xác ấy!
Lẫn
trong thảng hoặc tiếng chim hoan ca trên khu rừng quế, vẫn là tiếng băng cát
séc của nhà hàng xóm luôn thừa vui, nhưng lại chuộng những khúc bi ca thời
chiến sự. Vào những ngày này, trống trường bồn chồn lên tiếng sau ba tháng hè
ngủ quên dưới mái hiên ở thung lũng Động Hoa (theo tiếng Thổ, Tuần Giáo có
nghĩa là Động Hoa); sẽ được cộng thêm vào sự nôn nao chờ đợi kết quả cuộc thi
“chữ Việt đẹp” sẽ công bố vào dịp khai trường.
Dù
kết quả thế nào đi nữa thì tôi vẫn tin, rằng Hảo vẫn sẽ thực hiện ước mơ “bán chữ, bán tranh” của mình, vì nhìn
vào mắt em, dường như ở trong đó có lò than rực cháy. Em không còn hát những ca
từ nẫu nuột “Mưa buồn ơi xin lặng tiếng, mưa cho phố nhỏ càng buồn thêm, mưa
rơi gót khuya thềm lặng vắng, mưa gieo sầu riêng ai, buồn ơi đến bao giờ…”
vì với Hảo, có lẽ mưa rừng, hoa rừng và cả cuộc sống tràn đầy vật chất bên
ngoài ngưỡng cửa không còn là những tả tơi, rơi rụng, buồn tê buồn tái…
nữa. Thay vào đó là: “một
mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời...”
Một
mùa xuân riêng đang đến với người bạn nhỏ. ít nhất, mùa xuân trái vụ ấy cũng đã
được tự tạo ở trong lòng./
Bản
Đông - M.A, 28.8.2008
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét