27 tháng 2, 2013

VŨ KHÚC SÊNH TIỀN DƯỚI CHÂN NÚI PHA ĐIN




   1. Đoàn văn nghệ sĩ Hội VHNT Điện Biên về Tuần Giáo vào một ngày đầu tháng 10. Sương đã giăng mờ mịt khắp các ngả đi lối lại. Càng xuống thấp, sương càng đặc và trắng đến nao lòng. Tôi bỗng se sắt khi bất chợt vập phải những cành đào chĩa vào sương cả một trời cành gọng. Dù chẳng phải là cây đào cổ ở Khe Trúc, Bản Chăn (xã Quài Nưa - Tuần Giáo) nhưng trong mắt tôi vẫn ẩn hiện bóng dáng cậu bé Mông 15 tuổi, bị đánh gãy một chân, đang treo lủng lẳng trên cành trong tư thế cắn môi bật máu. Cũng cái màn sương trắng nhưng nhức này, cũng khung cảnh rừng núi quê hương như ngừng thở này, cách nay 47 năm, đã ôm trọn 10 mạng người, gồm ông nội, mẹ, chị gái và nhiều người thân của vị Anh hùng thiếu niên dân tộc Vừ A Dính vào lòng, trước sự kinh ngạc của bè lũ tay sai và bọn thực dân về khái niệm yêu nước của những con dân đất Việt mà chúng khinh bỉ gọi là Mèo, là Mọi... . Sự hy sinh rất đỗi đau thương mà oanh liệt ấy để lại cho chúng tôi một cảm giác thiêng liêng, và cả cái giây phút bình yên sải bước trên những ngả đường thênh thang bụi đỏ của các xã người Mông Pú Nhung, Ta Ma, Phình Sáng, Tênh Phông, Tỏa Tình…
   Tuần Giáo là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Điện Biên, có địa phận từ đỉnh đèo Pha Đin hắt xuống, bao trọn cả hai đoạn đường 6, cũ và mới của con đèo huyền thoại có chiều dài thứ 3 cả nước (Pha Đin dài 32km, cao 1.648m so với mực nước biển; sau đèo Hoàng Liên Sơn, nằm giữa Lào Cai và Lai Châu, dài gần 50km, đỉnh cao gần 2000m so với mực nước biển và, đèo “Sừng Trời” (Khau Phạ), nằm giữa Phú Thọ và Yên Bái dài gần 40km, cao 1.200m so với mực nước biển). Pha Đin, có người gọi chại đi là Phạ Đin, dịch từ thổ ngữ Thái đen là Trời Đất, có nghĩa là núi Trời Đất gặp nhau. Nhưng, như chúng tôi dày công tìm hiểu qua nhiều thế hệ sống trên và quanh đỉnh núi huyền thoại này, một lần nữa nhắc lại (đã nói trong Bút kí - Kỳ vĩ Pha Đin, Báo Văn nghệ Hội nhà văn số 25, ra ngày 24.6.2006), Pha Đin là núi Vách Đất. Tiếng Thái đen, pha có nghĩa là váchđin là đất, chứ chưa bao giờ Pha Đin là Phạ Đin cả. Một vách đất dựng đứng và khó trèo. Tại sao lại như thế, khái niệm trời đất gặp nhau sẽ chưa bao giờ đến lượt Pha Đin, vì ngay trên địa bàn huyện Tuần Giáo, còn có dãy Pơ Mu - Tênh Phông (cao 1.848m) và dãy Pú Huổi Luông - Nà Sáy (cao 2.179m), xứng đáng là “trời đất gặp nhau” hơn Pha Đin nhiều. Có thể vì lẽ Tuần Giáo bao trọn cả nửa Tây con đèo, đồng thời, thị trấn huyện lị cũng nằm cách chân đèo chưa đầy 6km nên người qua đường còn gọi dưới cái tên dân gian khác: Huyện chân đèo!
   Đã 11 năm, kể từ ngày nhà văn Thạch Linh, nguyên Phó chủ tịch Hội VHNT Lai Châu (cũ) dẫn đoàn văn nghệ sĩ tỉnh về Tuần Giáo làm cuốn sách Tình dân nghĩa Đảng, để kỉ niệm 50 năm thành lập Đảng bộ Tuần Giáo (1.8.1950 - 1.8.2000), tôi mới có dịp quay trở lại cái huyện nghèo, nhưng đầy lòng tự tôn, ý chí bừng dậy và ăm ắp chất liệu cách mạng này. Hồi đó tôi chỉ là “văn nghệ sĩ tò te”, đi theo các bậc tiền bối Thạch Linh, Nguyễn Quốc Chiến, Nguyễn Kim Thành… như một người cắp tráp. Sáng hôm đó, Thạch Linh hội ý đoàn ở Giao tế (nhà khách UBND huyện Tuần Giáo) rồi bổ văn nghệ sĩ ra làm đôi. Nửa về xã Pú Nhung - cái nôi cách mạng của Tuần Giáo (Tiền thân là Đội xung phong Quyết thắng được thành lập ở vùng tự do Yên Bái, rồi hành quân tới Pú Nhung, mượn “độ cao” và lòng yêu nước nồng nàn của người Mông Pú Nhung và Toả Tình… “toả bóng” cách mạng xuống toàn bộ châu Tuần Giáo và các vùng lân cận). Tôi theo cánh của nguyên Trưởng phòng Văn hóa huyện Tuần Giáo, hội viên Hội VHNT Lai Châu Nguyễn Kim Thành về xã Mường Mùn, nơi có người Anh hùng lao động cải tạo bánh xe vuông thành bánh xe tròn Quàng Văn Hao. Lúc đó, tôi chẳng có cảm giác gì khi làm việc với UBND xã Mường Mùn. Nhưng đến nhà Anh hùng lao động Quàng Văn Hao ở bản Lúm thì tôi là người ghi chép chăm chỉ thứ 2, sau Nguyễn Quốc Chiến. Nguyễn Quốc Chiến ghi đến cả ba đời trên, ba đời dưới nhà anh hùng. Xe bép còi đến lần thứ 3 thì tôi ra. Xe bép còi đến lần thứ 10 thì Nguyễn Quốc Chiến mới tay túi, tay mũ bì bõm lội như “người ruộng”, trên con đường thôn ngập ngụa phân, bùn. Ông nở nụ cười xin miễn xá: “Cái tính mình nó thế, ghi chép vậy mà lúc viết vẫn thiếu, không biết hỏi ai”.
   Nghe câu nói ấy, Nguyễn Kim Thành cười rất tươi, như thể quên ngay cái nỗi bực dọc chờ đợi. Hẳn ông chắc mẩm, thể nào cũng có cái gì kha khá, trả nợ cơm Đảng bộ. Còn tôi, cũng bởi câu nói ấy, mà ngòi bút cứ nghẹn đắng, không sao nhả chữ ra nổi. Tôi chắc Nguyễn Quốc Chiến viết dữ dằn lắm. Cái tiếng tăm của một nguyên Giám đốc đài Phát thanh Truyền hình tỉnh mà Thạch Linh trịnh trọng giới thiệu ngoài bàn trà gốc si Giao tế, nơi có con trăn nằm trong cái lồng sắt, nhưng bình thản cứ như trong rừng xanh vậy. Tôi chỉ mới là “cậu bé Bí mật rừng xanh” (Truyện ngắn thứ 2 của tôi, in trên Văn nghệ Lai Châu; nhưng thú thực, do ban biên tập yêu quí nên gọi đó là truyện ngắn, chứ giờ tôi thấy nó chẳng là loại gì cả) nên chưa có gì gọi là “dấu ấn văn học” đành lặng câm về Tuần Giáo cho đến tận bây giờ. Mà thú thật, phần vì cuộc sống gạo áo xô đi, phần vì viết văn khó quá phải lánh sang báo… nên đến tận trước chuyến đi này, tôi mới tìm, đọc lại những gì mà ngày ấy Nguyễn Quốc Chiến ghi ghi, chép chép.
   Theo lệ thường của một chuyến “công tác đoàn” là làm việc với Huyện ủy, lấy báo cáo tổng hợp do Văn phòng chuẩn bị, xong, tôi lặn đi theo cảm xúc tư văn của riêng mình. Điểm đầu tiên tôi muốn đắm vào là Tỏa Tình - xã 100% là người dân tộc Mông, sống cheo leo trên đỉnh núi “Vách Đất” từ cái thuở sơ khai Tuần Giáo. Ở nơi này, cách nay ngót chục năm, tôi đã không chỉ một lần, đi bộ dọc suốt chiều dài 32km của Pha Đin, từ km 366 - km 398 hướng Hà Nội - Điện Biên, để đếm cả thảy có 125 khúc cua nguy hiểm. Có phần đường, mép nhựa chỉ cách bờ vực có …19 cm. Rồi đến khi có đoạn đường mới, được cắt từ km 385 đến hết Tây đèo (km 398), tôi lại nhịn đói cả ngày ngồi thơ thẩn trên đỉnh Pha Đin, thả nỗi xót xa riêng mình hòa quyện vào nỗi xót xa quay quắt của đoạn đổ dốc cũ, nằm trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, dài 13 km, hắt hiu cô quạnh và ngày càng lỡ vỡ, xuống cấp. Thay vì tiếng gầm như rạch vào trời xanh của các loại cỡ cơ giới, giờ cả ngày không thấy một bóng. Cái sự tĩnh lặng bóp vào tim, ngột ngạt.
   Tuần Giáo thực chất chỉ quản lí 12 km, trong tổng số 32 km của con đèo. Truyền thuyết rằng, để giải quyết cuộc tranh chấp ranh giới không bao giờ ngưng giữa Sơn La và Lai Châu, người ta đã tổ chức một cuộc đua ngựa. Ngựa Lai Châu xuất phát từ chân núi phía Tây (nay là km 398, đường cũ), ngựa Sơn La xuất phát từ chân núi phía Đông (km 366), nơi hai ngựa gặp nhau sẽ được xác định là địa phận. Một phần vì đường đèo phía Lai Châu dốc hơn, phần vì ngựa Lai Châu chạy chậm hơn nên phía Sơn La được nhiều đèo (20km/32 km; địa phận 2 tỉnh nằm ở km 386, đường cũ).
   Tuần Giáo (hay Tuân Giáo) vốn có một tên gọi khác, nằm trong bất kể giao dịch nào của người dân bản địa, cả trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, đó là: Mường Quài (vùng nhiều xã). Cái tên này cũng gây ra không ít tranh cãi, và dường như chưa bao giờ ngã ngũ cả. Có quan niệm rằng, Mường Quài là vùng nhiều trâu (theo thổ ngữ Thái đen thìmường là vùngquài là trâu). Trâu ở đây cứ gọi là… mộng ngay từ nghé mộng đi. Trâu đã to, đẹp, khỏe nổi tiếng lại còn nhiều đến mức (ngược với bây giờ), mỗi đàn trâu cả trăm con, mới được “sở hữu” một… hộ dân; và vì thế mà vùng đất này được gọi là Vùng Trâu, Đất Trâu. Nhưng phần lớn, người ta nghiêng về khái niệm sơ khai, tức là vùng nhiều xã (xã Quài Nưa, xã Quài Cang, xã Quài Tở… dịch nghĩa đen là Trâu Trên, Trâu Giữa, Trâu Dưới) và vẫn bao hàm tiểu nghĩa, rằng nhiều xã có nhiều trâu(!) Không ai phủ nhận xưa kia Mường Quài nhiều trâu, nhưng là trâu của vua Thái Đèo Văn Long, trâu của bốt Pháp quân Mường É - Pha Đin và đồn Bản Chăn - Quài Nưa… . Một khi đã là của giặc, thì không ai còn lòng vị tha để mà vay danh cho một địa hạt cách mạng! Thế nhưng, ban đầu Mường Quài rõ ràng không phải là tên của “thung lũng liên hoàn” này, mà phải là Tông Quài (tức Đồng Quài). Ý người xưa muốn “khoe” rằng, ở đây có tới 3 nhánh “đồng bằng” màu mỡ hợp thành thế tam túc, là: Kha Hon, Kha Ca và Tông Quài… . Do càng về sau, số người ý thức về khái niệm này càng hạn chế, nên người ta gọi theo phương ngữ hệ chuẩn, đa nghĩa hơn, đó là Mường Quài - vùng nhiều xã!
   Chẳng ai biết cái tên Tuần Giáo có từ bao giờ và ý nghĩa thực chất là gì. Chỉ biết, thời Lê Cảnh Hưng, châu Tuần Giáo có tên là Tuân Giáo, vốn là một động của châu Thuận. Vào năm 1777, nhà Trịnh tách động Tuân Giáo khỏi châu Thuận, lập châu Tuần Giáo, còn trước đó, thuở Hùng Vương có gọi là Tuần Giáo, Tuân Giáo hay còn tên gì khác nữa thì không ai dám chắc. Từ thời Văn Lang đến nay, Tuần Giáo trải qua tổng cộng 15 lần điều chỉnh địa giới, điều chỉnh cấp độ hành chính và đơn vị hành chính trực thuộc… Hết động, châu, tổng rồi bây giờ là huyện. Hết thuộc bộ Tân Hưng; thuộc châu Lâm Tây; thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang; thuộc trấn Gia Hưng; rồi thuộc phủ Gia Hưng; thuộc châu Thuận; thuộc phủ Điện Biên; thuộc Tiểu quân khu Vạn Bú; thuộc tỉnh Vạn Bú; thuộc tỉnh Sơn La; thuộc tỉnh Lai Châu; thuộc Đạo quan binh thứ 4 Lai Châu; thuộc khu tự trị Thái - Mèo; rồi lại thuộc tỉnh Lai Châu. Và bây giờ, Tuần Giáo là một trong 9 đơn vị hành chính của tỉnh Điện Biên, được điều chỉnh lần gần đây nhất theo Nghị định 135/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 14 tháng 11 năm 2006, trên cơ sở tách một phần của huyện Tuần Giáo cũ để thành lập thêm huyện Mường Ảng.
   Chẳng biết sau này, Tuần Giáo có còn những thay đổi nào khác nữa, nhưng mới chỉ sơ bộ có bấy nhiêu, cũng khiến tôi có một ấn tượng đặc biệt về vùng đất nhiều gian truân, trắc trở và cũng lắm công danh này.


2. Thời phong kiến, cái “cơ thể” Tuần Giáo được ví như một gã tuần đinh, hơn nữa là một vị tướng áo chàm hiên ngang ngoài biên ải. Khi có cách mạng, Tuần Giáo như một chiến sĩ quả cảm đầy thao lược trên chiến trường; một sơn nữ đảm vát ở hậu phương; và một cán bộ tinh nhuệ, mẫn cán trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Hôm nay tôi lại thấy, Tuần Giáo như một lực sĩ thể hình, khoe tất cả những “cơ bắp tiềm năng” trên “sàn diễn” phát triển xã hội. Trong một loạt tăng trưởng về công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, y tế… còn có một “bó cơ ẩn” mà ít ai nghĩ tới, đó là việc Tuần Giáo đã và đang nghĩ đến chiến lược phát triển du lịch - một loại hình du lịch nông thôn miền rừng, hòa con người vào với thiên nhiên, hòa con người vào với các giá trị văn hóa, kinh tế, lịch sử…
   Có người cho là viển vông, vì trên thực tế, ở một huyện miền núi nghèo, xây dựng cơ bản chưa nhiều, mà lại dám ủ ấp giấc mơ cao sang của “ngành công nghiệp không khói”? (Tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn Tuần Giáo mỗi năm chỉ trên dưới 100 tỉ đồng, gồm cả vốn tỉnh quản lí và huyện quản lí, từ các nguồn: Ngân sách huyện; Vốn xây dựng cơ bản tập trung; Vốn trái phiếu Chính phủ; Vốn vay tín dụng ưu  đãi; Vốn hỗ trợ xử lý sạt lở đê kè phòng chống bão lũ; Vốn Dự án thí điểm phát triển vùng; Chương trình 134; Chương trình 135, trung tâm cụm xã và các bản đặc biệt khó khăn; Kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; Phát triển kinh tế - xã hội vùng cao; Nước sạch vệ sinh và môi trường nông thôn… . Doanh thu hàng năm cũng chỉ hơn hai chục tỉ đồng). Nhưng, nhìn về lâu dài, Tuần Giáo hội tụ đầy đủ yếu tố cần thiết, để thành lập các tuyến du lịch liên kết, hoặc du lịch độc lập độc đáo và hiệu quả, nhờ vào một loạt “sản phẩm” lịch sử. Với 2 địa danh cổ khảo, là Di chỉ mái đá Thẩm Khương và Di chỉ mái đá Thẩm Púa (Bản Pó, xã Chiềng Sinh)… từng thu được hàng trăm hiện vật đồ đá, gồm công cụ hạnh nhân, hình đĩa, rìu mài, rìu ngắn, rìu mài lưỡi, rìu có vai chặt, nạo, mũi nhọn, rìu tay, chày, bàn nghiền, hòn ghè. Các công cụ bằng xương, bốn ngôi mộ và nhiều xương răng động vật, di tích thực vật; mảnh tước, vỏ ốc, bi và thổ hoàng… thuộc văn hóa khảo cổ học Hòa Bình, và trước Hòa Bình có niên đại ba vạn năm đến hai vạn năm trước… . Nếu biết khai thác đúng cách, có chiến lược đầu tư hợp lí, Tuần Giáo có thể đưa hai di chỉ này vào mô hình du lịch khảo cổ, để các thế hệ du khách có cơ hội trải nghiệm cuộc sống dựa cậy phần lớn vào trời đất của truyền nhân thủy tổ, của những “người rừng”… . Và gần hơn là, vào vai lớp người kháng chiến thông qua kì quan thám hiểm địa danh hang Thẳm Púa (Chiềng Sinh), vốn là Đại bản doanh của Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ trước khi chuyển tới Mường Phăng (huyện Điện Biên). 
   Hệ thống các “sản phẩm thiên nhiên muôn hình” của Tuần Giáo cũng không kém phần phong phú và độc đáo, trong đó, phải kể đến đèo Pha Đin. Ngoài yếu tố thiên nhiên kì vĩ, Pha Đin còn là biểu tượng tinh thần cho sức mạnh vận tải Việt Nam, và cũng là nơi mong mỏi tìm kiếm hài cốt hàng trăm chiến sĩ Thanh niên xung phong của cả hai thời kì, chống Pháp và chống Mĩ; an tọa rải tại khu vực chân đèo phía Tây đã hàng nửa thế kỉ qua. Về với Pha Đin, du khách chắc chắn sẽ hình thành một khái niệm mới về thiên nhiên thú vị, với biểu tượng của 100 người lính “tốt xanh”, quanh năm đội mây trên đầu, đứng uy chấn cả một vùng biên viễn, thông qua 100 mỏm núi, họa sắc cùng điệp trùng bất tận của dãy Vách Đất. Rời núi, là đến nước. Tuần Giáo có mạng lưới gồm hàng chục con suối, sông chảy len lỏi khắp các khe, lòng, rồi hừng hực băng qua hệ thống những cánh đồng hẹp và dài như những dải khăn trời kì ảo, như suối Tông Ma, Nậm Mu, Nậm Mùn, Bản Phủ, Toả Tình, Tênh Phông, Nậm Pùa, Nậm Cô và sông Nậm Mức, sông Đà, sông Mã...
   Một điểm khác biệt ở Tuần Giáo với các vùng khác nữa là, một loạt các loại hình mỏ địa chất: quặng sắt Nậm Din, Đề Sấu, Háng Chua, Phàng Củ; quặng bauxite ở Nậm Din; chì, kẽm ở Phình Sáng, Mùn Chung; nước khoáng ở Bản Mu, Bản Sáng, Ta Pao… cũng sẽ tạo thành lực níu những tour du lịch khám phá, du lịch trắc địa và hơn cả thế, là du lịch công nhân… . Ngoài ra, Tuần Giáo còn có các vùng sinh thái khá phong phú xung quanh những trạm thuỷ điện vừa và nhỏ ở Ta Cơn (thị trấn Tuần Giáo), Nậm Mức (Mường Mùn), Nậm Pay (Mùn Chung)... hòa vào màu xanh bạt ngàn của 65.071 ha cả rừng sản xuất và rừng phòng hộ (chiếm 57% diện tích tự nhiên), mà cứ mỗi độ xuân về, không thắm sắc đào thì cũng trắng đến kì cùng ban trắng. Ở cái buổi, chỗ nào cũng thiếu, cũng vắng bóng thiên nhiên, vắng bóng nguyên sơ, thì sự kì thú của Tuần Giáo sẽ tạo nên nhiều dấu ấn, với những loại hình du lịch thân thiện, du lịch trải nghiệm, học tập và tôi rèn lòng can đảm, tính tự tồn… cho lớp lớp thanh thiếu niên thời đại @.
   Tuần Giáo dường như đã manh nha phát triển loại hình du lịch tìm hiểu văn hóa, ẩm thực trong cộng đồng các dân tộc, để những du khách ở các vùng miền khác có thời cơ dấn bước vào với cuộc sống vô cùng khốn khó nhưng đầy thú vị của người dân vùng cao. Bỗng một ngày nào đó, xa rời cuộc sống xa hoa, điện đèn, xe cộ, để được lấm tấm trên trán, róc rách sau lưng trong một ngày hội rèn dao, rèn cuốc;  đúc cày, đúc xoong; đan bem, đan lếp; thêu piêu, dệt thổ cẩm; hay hòa đồng hơn nữa, trải nghiệm hơn nữa là làm nương, mở đường, kéo trâu, thồ ngựa… để tự thân biết thế nào là làm ra củ sắn, bắp ngô, hạt thóc... . Tối về, người bưng bát mèn mén, kẻ bên nồi thắng cố, cơm lam, cá “tộp”… . Rượu Mông pê, lẩu sơ, lẩu xá… ngấm vào đến cả ai đó đang mệt nhoài vì công việc, bỏ ăn cuộn tròn trong chăn… Đấy mới chính là khám phá. Thậm chí, đấy mới là cuộc sống thực sự ý nghĩa, thực sự cảm thông, chia sẻ cả những nỗi gian khó lẫn những niềm hạnh phúc của người Thái, người Khơ Mú, người Mông, người Dao, người Kháng... sống như bám vào mây trời. Họ đang vì chính họ, và họ vì cả chúng ta, ngày đêm làm nên một bản sắc văn hóa riêng, lạ và quí, với những điệu pí, tiêu, kèn, khèn; những màn múa sạp, múa khăn, múa nón, múa lửa, múa chai… đóng góp vào nền văn hóa phong phú, đặc sắc và đa dạng Việt Nam.
   Về Tuần Giáo những ngày này thật thú vị. Trên tất cả những ngả đường, lúa, ngô, đậu, sắn… cứ như gắn động cơ, đua nhau chạy về các thôn bản. Không như hơn chục năm trước, vào ngày mùa thế này, ta dễ dàng bắt gặp từng đoàn trâu bò kéo, ngựa thồ gõ móng mù mịt cả triền thung. Có khi sau lưng mỗi đoàn “súc vận tải” ấy là một thằng bé, tóc và áo đỏ hoe, tay lăm lăm cái roi trúc, vút vào gió đau quắn. Cũng có khi, cả một đoàn ngựa dài hàng chục con, chẳng có ai đôn thúc cả. Con đầu đàn kéo theo sau một xâu dài, đằng sau, thừng con nọ buộc vào yên con kia, lộc cộc thẳng tiến về bản. Ở nhà, người đón hạ hàng xuống, mỗi con được quẳng cho khi thì củ sắn gọt trắng như gạo bóc, khi thì bắp ngô… chúng vừa cắn bôm bốp, vừa nhằm hướng núi mà đi, cho đến khi nào ông mặt trời chui vào trong cái màn tối của “Hươn phạ” (Nhà trời).
       Mặc dù đã đổi thay rất nhiều kể từ khi chia tách huyện (11.2006), được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, thế nhưng Tuần Giáo giờ đây vẫn là một huyện nghèo, thậm chí rất nghèo, với 9/14 xã, thị trấn còn đặc biệt khó khăn. Địa hình chia cắt hiểm trở, có đến 70% là đồi núi cao từ 800m trở lên, mới thấy Tuần Giáo thật khó khăn khi gánh vác chính cái nghĩa vụ thuần túy: “huyện nông nghiệp” với 90% dân số là nông dân, nông thôn, của mình. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của Tuần Giáo là 29.837 ha, chiếm có 26% diện tích tự nhiên (113.629 ha) của toàn huyện. Theo báo cáo của UBND huyện năm 2010, thì diện tích gieo, trồng cây có hạt chỉ là 11.574 ha, thấp hơn rất nhiều so với đất sản xuất nông nghiệp (chỉ chiếm hơn 38%), vậy mà hằng năm, Tuần Giáo thực hiện luân canh cả trên diện tích ruộng, nương; cả với cây lương thực, cây lấy bột, cây công nghiệp ngắn ngày… là 18.055 lượt ha (vượt xa số ha thực gieo trồng đến 156%), đáp ứng mục tiêu 33.000 tấn; bình quân mỗi người một năm được hưởng 430kg. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, Tuần Giáo đã gieo, trồng xấp xỉ 13.436 ha lúa nương, lúa ruộng, ngô, sắn, đậu, lạc, rau…; tương đương 116% diện tích đất gieo, trồng cây có hạt. Con số ấy, thể hiện ít nhất 2 điều lớn: khoa học kĩ thuật thực sự đã đi vào cuộc sống; và ý thức sống với đất, sống vì đất của bà con đã rõ nét, không còn dấu hiệu của di canh, di cư, phá hoang rồi bỏ hoang đất - một vấn đề từng làm đau đầu các nhà hoạch định xã hội.
       Vài năm trở lại đây, ngành nông nghiệp Tuần Giáo dang tay đón hai loại “cây công nghiệp nặng”, theo cách ví von của nhiều người, là 600 ha cây cao su (Đã hỗ trợ kinh phí cho các gia đình, cá nhân có diện tích đất chuyển sang trồng cây cao su 1.132 ha); và 369 ha cây cà phê. Trên thực tế, cây cà phê đã phát triển rất tốt trên địa bàn Tuần Giáo, và đã cho doanh thu cả trăm tỉ đồng mỗi năm (năm 2010); vì thế, khi Chính phủ tách Mường Ảng ra thành huyện mới, cây cà phê theo đi hết, Tuần Giáo phải cần mẫn xây dựng lại thế mạnh cho 7,7 vạn nhân khẩu (thời điểm 2010) của mình, từ những ha cà phê kiến thiết cơ bản đầu tiên. Trước đó, không phải Tuần Giáo không có cây gì đáng kể. Quế và hồi đã từng thắp giấc mơ vàng vào trái tim sắt đá của hàng trăm con người sống quanh chân Núi Bút. Xa hơn nữa, rộng hơn nữa là hàng ngàn ha cho tất cả các loại cây, vừa lấy gỗ, vừa lấy quả, lá, nhựa kí sinh… như chè, lát, thông, mỡ, dổi, khiết, trẩu, mắc ten, bạch đàn, keo, mơ vân nam, mận hậu, xoài, hồng đỏ, cam sành, quýt, bưởi Phúc Trạch, nhãn lồng Hưng Yên… . Trên các rẻo cao ngàn mét, người dân cũng tìm thấy sự hỗ trợ thủy chung và vĩnh cửu của nhiều cây thế mạnh như sơn tra, đào mèo, sa nhân, thảo quả… . Tuần Giáo không chỉ có cây lương thực, không chỉ có rừng, mà trâu, bò, dê, ngựa, lợn… cũng hiện hữu vốn như một phần nghĩa của cái tên “đất gia súc”. Trong điều kiện chung của các huyện miền núi là đồng cỏ ngày một co lại, dịch bệnh ngày một tăng lên; đặc biệt là nạn gia súc chết rét do biến đổi khí hậu toàn cầu… vậy mà Tuần Giáo vẫn duy trì và phát triển bình quân mỗi người sở hữu tương đương 1 đầu gia súc, ấy là chưa kể gần 200 tấn các loại con, được nuôi trồng trên diện tích hơn 200 ha mặt nước…
   Trong buổi đầu làm việc đoàn, Phó bí thư thường trực Huyện ủy Giàng Trùng Lầu đã rất đỗi tự hào về tinh thần đoàn kết dân tộc, khả năng khước từ mọi khó khăn gian khổ cả khách quan lẫn chủ quan của hơn bảy vạn người dân, thuộc hàng chục dân tộc anh em huyện mình. Để khảo nghiệm, chúng tôi phải đi hầu hết các xã vùng cao, vùng sâu của Tuần Giáo mới thẩm thấu hết được lời dè ý kiệm của vị tân Phó bí thư người dân tộc Mông này. Ít đâu hiếu khách bằng người Thái ở ba Quài. Ít nơi nào trung kiên, chung thủy như người Mông ở Pú Nhung, Tỏa Tình. Hiếm vùng có những lễ hội độc đáo như người Kháng, người Khơ Mú ở Tuần Giáo. Đi đến đâu, ngủ ở bất kể nhà nào, bản nào cũng thấy điều anh Lầu nói, nó có lí như ăn mèm mén chan thắng cố, uống rượu ngô vậy. Chẳng chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng sức ì ạch thâm căn bản ngã thì lấy đâu ra gạo, thịt, rượu để cho người Thái đen ba Quài làm hàng loạt lễ hội trong năm: Lễ Kin chiêng bók may (Tết mừng xuân); Lễ hội hoa ban; Lễ Xên xó phốn (cầu mưa); Lễ Xên lẩu nó (giục măng mọc); Lễ cơm mới; Hạn khuống (kể chuyện, hát giao duyên); Lễ Xên phắn bẻ (chặt đầu dê)…? Lấy đâu ra phú quí để cho người Kháng phát sinh lễ nghĩa, thông qua Lễ hội Xen pang ả (tái tạo dân tộc), Lễ hội Xíp xí (Tết 14.7 âm lịch); người Khơ Mú làm Lễ Palr Hmal Phlưa (lễ xin lửa với hồn bếp); Lễ hội Pa Sưm (lễ cầu nùa); Lễ hội Hmạl hngọ (cúng mẹ lúa, hồn lúa)…? Không trung kiên, chung thủy thì sao các dòng họ Mông Vừ, Mông Mùa, Mông Giàng… ở Pú Nhung, Tỏa Tình và nhiều xã người Mông khác của Tuần Giáo có hàng chục, thậm chí cả trăm người tiếp bước sự nghiệp anh dũng của Lãnh tụ Pa Chay, của các bậc Anh hùng Mùa A Sinh, Lý A Mà, Vừa A Dính, Sùng Phái Sinh… đi làm lãnh đạo từ các cấp ban, ngành tỉnh xuống đến xã; rồi đi làm “cán bộ” khắp các tỉnh Tây Bắc...?
   Các dân tộc thiểu số anh em ở Tuần Giáo vẫn “giữ ma” trong cuộc sống bình yên và đẹp đẽ của mình, không phải vì ở đây chỉ vẻn vẹn có 2,8 bác sĩ cho một vạn dân, mà là “ma” văn hóa, “ma” lễ hội. Trong cuộc sống thiếu thốn, vất vả và đôi khi là chấp chênh, nhờ được dựa vào, được tin tưởng những con “ma vui”, “ma khỏe”, “ma đẹp”… ấy mà đời sống nhân sinh ngày càng được tôn vinh, theo nghĩa “lễ nghĩa song hành phú quí”…
   Chúng tôi chia tay Tuần Giáo, chia tay mảnh đất được liệt vào hạng “huyền nhân bí sử” của Điện Biên cũng vào một buổi bình minh đặc sắc sương trắng. Văng vẳng bên tai tiếng tiền đồng va tinh tinh như tiếng no, tiếng ấm rơi vào chĩnh bạc… của vũ điệu Sênh tiền tưng bừng vạn nẻo. Vũ điệu giầu có như quyện vào trời đất, càng làm bước chân giã hội cứ dùng dằng đến se sắt. Tạm biệt Tuần Giáo!  Tạm biệt điệu sênh tiền của dân tộc Mông tinh tích tiếng tiền ngân. Tạm biệt mùa sương trắng và cả linh hồn của những người anh hùng dân tộc! Tạm biệt những nhân sĩ Mường Quài đã dùng ngòi bút của mình vươn tới mọi ngả ngóc ngách của cuộc sống quê hương như, những cố Chủ tịch huyện, hội viên Hội VHNT Lai Châu Vừ Dũng Khá với Nhờ có Đảng, người Mông ta mới được đi học chữ. Như lão thầy giáo, nhà thơ Hồng Hà với Ngã ba Tuần Giáo. Như Huệ Nhung với Tình rừng. Như Du An với Về Pú Nhung. Như Nguyễn Kim Thành với Suối đổi dòng… . Ở đâu đó, vẫn còn tiếng ngân nga phát ra từ những vần thơ mộc mạc, nhưng đầy ắp tình làng nghĩa bản của cố Chủ tịch Vừ Dũng Khá - cháu ruột người Anh hùng thiếu niên Vừ A Dính: “Hỡi người thương ơi, cha mẹ nuôi anh ăn cơm dùng bằng thìa gỗ deo, để anh bước ra đi học như con én, con cắt bay mãi đường xa…”.
   Chia tay Tuần Giáo - thị trấn miền rừng uốn lượn hai bên bờ con nước Nậm Hon, cứ như chảy mãi, chảy mãi ở trong lòng sự mềm mại, sự mát mẻ và đầy ăm ắp của cái nhánh suối bắt nguồn từ vùng núi Bản Phủ huyền thoại.
   Chia tay Tuần Giáo - thị trấn miền rừng phồn thị, nằm như một con rồng xanh giữa ngã ba đường 6 và đường 279; một xuôi về Hà Nội, một ngược thị xã ngã ba sông Mường Lay, một vào Điện Biên - thành phố trẻ vững như bàn thạch ngoài biên ải.
   Xin gửi lại cái thị trấn như nằm giữa ngã ba lòng, khiến người ta đi mà như ở… một chút tình của người say ân say nghĩa. 
   Mượn 2 câu thơ của lão thi sĩ Hồng Hà trong bài Ngã ba Tuần Giáo, để khép lại bài viết mà như vẫn còn nợ Tuần Giáo cả trăm bài viết nữa:… Như bàn tay xòe ra/ Mênh mông tình phố núi…

Mường Quài, 06.10.2011

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét