7 tháng 2, 2013

GIA ĐÌNH THỢ MỘC


Truyện ngắn

Cái khung nhà tre tưởng chừng không thể đứng vững trước cơn gió bấc điên cuồng tốc lên từ khe Bứa. Từng vạt lá rừng khô cháy bởi luồng sương muối quét qua, chỉ sau vài đêm đã trút bay tan tác, để lại cả mảng cây hài cốt nỏ nang như một khu rừng chết. Bện xong phên cỏ cuối cùng đưa lên cho cha lợp, tôi chêm lửa bếp. Thế là tối nay không phải ngủ ngoài sương nữa, dù chưa kịp làm sạp, nhưng dẫu sao nằm bệt trong nhà vẫn hơn nằm bệt ngoài trời. Cu Lem đang hì hục vót những chiếc dăm tre, đóng xuống nền đất thành một cái hàng rào, rào quanh chiếc lá khô bị sâu cuộn giống như một cái kén tò vò mà nó bảo là nhà riêng mai sau của nó, thì nghe cha hỏi:
   - Cu Lem xem nhà có dột không?
   - Dạ! Mưa hả cha?
   - Ừ, mưa to lắm.
    Cu Lem ngó nghiêng tiếng rót tồ tồ xuống mái nhà, liền bị mấy “giọt mưa” của cha tỏng vào đầu. Nó lập tức ngã sụn xuống đất, khóc như vừa bị mất cắp tự trọng. Nó bảo nó là con nhặt, cha khinh nó nên mới đái vào đầu nó, nó mà ngu đi, nó sẽ hút thuốc phiện, sẽ uống rượu, đi hoang... (toàn những điều cha dạy nó không nên làm). Nó nói thế là vì mỗi lần nó hờn, cha tôi thường dọa sẽ đem trả cho cha đẻ nó là người dân tộc Xá, nghiện thuốc phiện, làm nghề dọn nhà xí thuê bên kia suối Cáo. Một lần mải gánh phân ra ruộng, ông ta đánh rơi cu Lem, vì sợ chủ cắt cơm nên không dám dừng lại nhặt, cha tôi thương hại đem về nuôi nhưng vẫn hẹn khi nào nó hư thì trả lại. Vậy là nó nín mà không cần phải ai dỗ.
    Cái thằng tự ái cá nhân thật rồi. Trước hôm chuyển nhà sang đây, nó van vỉ cả đêm, vừa mới được mon men vào ngưỡng cửa lớp mẫu giáo thôn thì cha chuyển nhà cái độp, làm nó khóc bỏ ăn bỏ ngủ. Chẳng cần thang, cha co chân nhảy tọt một cái xuống đất, nhấc thốc cu Lem lên vai, phi ngựa một vòng quanh sân, vừa “hí” vang trời, vừa thưa nó là Lã Bố. Thường thì những lần khóc vạ không nước mắt, chỉ cần cha làm thế là nó đổi cười. Nhưng hôm nay không hiểu sao nó khóc như bị nhéo đít. Thấy nó cạu thật, cha cười váng núi, rồi nhể nhể về phía tôi. Đang mải cạo mấy củ sắn, lúc theo cha rẽ qua nhà ông trưởng xóm ký hợp đồng đóng cái giường đôi để ông bắt con dâu, bà trưởng xóm vừa dỡ ngoài vườn, cho mấy củ bảo đem về làm bữa tối. Chẳng hiểu ý cha thế nào, tôi cũng cứ hùa theo gật gật. Cha tôi quay lại bảo nó:
   - Thấy chưa, chị cả đồng ý mai cho cu Lem đi học lớp vỡ bọng cứt rồi đấy.
    Cu Lem biết thừa, bảo cả hai cạ nhau lừa nó. Nó bảo muốn nó nín, cha tôi phải ném nó qua mái nhà. Để nó ngã, nó sẽ chết. “Thật đấy!”. Nó dọa trong tiếng nấc. Mặt cha tỉnh queo, hai tay khóa vào bụng cu Lem, lấy đà lẳng mạnh một cái. Tiếng hét của cu Lem chưa kịp tròn, đã vọt sang bên kia mái nhà. Cha tôi chạy vụt ra mái sau. Tiếng cha và cu Lem cười sằng sặc, dội hút vào khe núi...    
    Cu Lem quay lại chơi với ngôi nhà hy vọng do chính hai bàn tay nó tạo nên, với sự giúp đỡ của con sâu kèn. Còn cha bỗng dưng ngồi đừ ra, hết nhìn tôi, nhìn cu Lem, nhìn cái nhà rồi thở dài như dẫm phải dớt ốc. Chiếc điếu cày làm vội bằng ngọn tre tươi, thở ra những đám khói màu bọt phổi, lang thang trên mảnh sân còn nguyên những bụi cỏ mần trầu già, mọc gồ ghề chưa được giẫy dọn. Tôi bất giác thấy sợi buồn từ mắt cha thọc thẳng vào trái tim non nớt, vừa mới kịp dậy thì của tôi, mà như tất cả những người đàn bà ngoa ngoắt vẫn chê dại và ví von: “Dại cho giai nó thích”. Với tôi lúc này, thà thế còn thấy xung quanh mình đu đủ. Từ cái tát nẩy lửa của đám con trai vô giáo dục, đến những giọt mồ hôi gần như không bao giờ ráo cạn để có được ngày hai bữa cơm, mà vẫn không ngớt bị xỉa xả... 
     
***

    Tiếng ru tuổi thơ tôi ngọt chìm trong khúc tấu dài tưởng chừng không bao giờ cạn, đó là những tiếng ngáy đã bị rơi bớt một phần ô xy trên con đường mưu sinh của mẹ. Và thế là tôi yên chí ngủ từ lúc lọt lòng cho đến khi biết phân biệt thế nào là hát và thế nào là nói. Lớn thêm chút nữa, câu chuyện cổ tích hằng đêm mẹ kể cho nghe chính là chuyện của cha và mẹ. Mẹ bảo năm mẹ lên sáu, ông bà ngoại lỡ để lửa nuốt trọn nhà mình rồi nuốt luôn mười một ngôi nhà trong làng. Bà ngoại sợ quá trẫm sông tự vẫn. Ông ngoại ở lại bóp bụng quanh năm làm nhà trả nợ. Năm mẹ lên chín ông ngoại mới đền được hai nếp nhà. Năm mẹ mười ba, vẫn còn năm nhà nữa đến bắt vạ trong sự voi vóp của đôi tay già nua và những quãng đứt của hai dòng nước mắt con trẻ.
    Vào một buổi chiều, ông và mẹ đang lợp những tấm gianh đầu tiên lên ngôi nhà thứ bảy thì thấy cha ba lô lộn ngược lủng lỉnh bước vào làng. Cha mon men xin ông ngoại việc làm, ông ngoại không nói không rằng chỉ khóc. Mẹ cũng khóc. Thấy thế, cha quẳng túi đời của cha xuống đất (mẹ bảo thế, nhìn bộ dạng cha lúc ấy, cỡ ngoài hai mươi, mẹ đoán chắc kỷ niệm cũng túi ấy mà tương lai rồi cũng sẽ túi ấy. Tôi thì cho rằng chắc chắn phải có tôi rồi mẹ mới nghĩ được thế, nếu không mẹ đâu có lấy cha). Cha nhảy tót lên mái nhà, đúng là nhanh nhẹn (mẹ khen) hai tay ba việc chỉ một loáng là xong. Hôm sau. Hôm sau nữa. Cha giúp ông ngoại thưng vách, làm cửa, bó nền. Trưa ăn cơm nhà chủ. Tối về húp canh khoai môn, uống rượu cất lại từ chum bã sắn của bà cả Phái, mẹ bảo chua loét. Thế mà chuyện đời, chuyện nghề, chuyện đàn bà... thôi thì nhặt nhạnh thập cẩm từ đâu đó mười phương về, nổ râm ran dưới gốc bòng nhà ngoại. Mẹ ngồi gà gật trông chừng hâm lại canh cho ngoại và khách. Đêm nào cũng khuya ngơ khuya ngắt hai ông phó mộc mới chịu hạ màn.
    Từ ngày có cha, ông ngoại bỗng nhiên mất hẳn nét cười thiểu não và cái già tưởng chừng như mỗi mình ngoại biết già. Năm ấy, vừa lên rừng lôi gỗ, vừa tranh thủ đục đẽo, lại được các gia chủ thương hại cho ăn uống thêm cặp, ông ngoại và cha đền liền được hai nhà nữa. Gần tết chẳng có xu nào cho cha về quê, ông ngoại nằng nặc giữ cha ở lại với lời hứa năm sau dạy nghề, dẫn mối cho cha ăn nên làm ra bằng năm bằng mười năm cũ. Trong cơn men, cha gọi ngoại bằng thầy và bảo:
   - Con có nhà đâu mà về, cũng có hom đâu mà cần tiền! Thầy cứ coi con là con đã kể như của ăn của để kiếp thằng tân thợ mộc này rồi.
    Ông ngoại như chỉ chờ có thế là văng ngay ra một tràng, không mấy sâu sắc:
   - Ừ, thầy cứ gọi là cho không cái chức làm con của anh, cho không cái nhà, cây bòng, chai rượu và con em mày nữa (ông ngoại chỉ vào mẹ). Năm sau đền nốt hộ thầy hai nhà rồi thầy con mình tự làm tự ăn, chẳng cho bố con ai một cắc nào sất!
    Tưởng chuyện ngáo ộp của những người say, ai ngờ sớm hôm sau, ông ngoại lôi cha và mẹ đi bộ gần mười cây số lên xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Suốt dọc đường đi, lúc cha mang hộ cái túi, khi đỡ mẹ nhảy qua khe nước, mẹ bảo mẹ thấy hơi bất ngờ nhưng trong lòng phẳng lắm, chẳng ngại chút nào. Mãi đến khi ngồi trước mặt anh cán bộ tư pháp xã, nhìn mục hộ khẩu thường trú của cha bỏ trống, mẹ mới thấy mắt như rắc ớt. Anh cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn cho cha và mẹ ngần ngừ định không ký, ông ngoại chỉ phắt tay vào mặt anh lớn tiếng:
   - Anh cứ ký đi. Đúng, sai, khổ, sướng tôi chịu. Anh làm quan là vì dân, mà cha con tôi là dân nên anh hãy vì cha con tôi đi. Chữ ký có làm anh nghèo hay ốm đau đâu... Ừ, thế nhé, tôi xin!
    Xong, ngoại quay lại hất hàm:
   - Về!
    Tối đó, khi mà mẹ chợt tỉnh trước cuộc hôn nhân sét đánh ấy, thì ngoại đã đẩy cha tôi vào buồng của mẹ. Kết quả của cú chạy trốn sự rõ ràng là gần một năm sau mẹ đẻ tôi. Ngoại và cha đã đền làng nhà mới cả rồi nên không ai làm nhà nữa. Nghề nghiệp lại bắt cha phải cắp tràng đục đi, có khi ba tháng mới gánh về chục cân gạo, vài con gà và mấy trăm đồng bỏ ống. Năm tôi lên ba tuổi, chẵn niên cha về được hai lần, giáp hạt và tết.
    Một đêm, tôi quáng quàng chạy trốn giấc mơ truy đuổi, và chợt gặp tiếng thút thít của mẹ. Cha mới về thăm nhà, đang ngồi hút thuốc lào ở gian ngoài, vừa thả ra đám khói hăng hắc vừa vóng vót vào buồng.
   - Hay là cả nhà ta bốc đi cho có ngày có tối?
    Cha làm như mình là cơn gió không bằng, càng đi càng no, càng bay càng mạnh. Tôi vừa mơ thấy cơn gió ấy, nó gầm gào nhưng vô sản. Chẳng có thứ gì nó không bẻ gãy, nhưng với nó thì mong manh như giấc mơ thôi. Thích thì còn, không thích thì mất. 
    Mẹ tôi chẳng nói chẳng rằng, mà khóc to hơn. Cha thủng thỉnh:
   - Bu mình không nghe sau này tội lỗi gì cũng là của bu mình. Tôi đã tốt, hết sức tốt. Tôi đã giữ, hết sức giữ. Nhưng đời mấy khi chiều người...
   - Anh cứ đi, hai mẹ con đây muốn ôm giữ hương hỏa.
Nghe cha mẹ nói chuyện tôi biết, bên ấy dễ làm ăn lắm, nhưng nghề cha lúc mới đến thì đâu chẳng dễ, đến khi người ta đóng đủ rồi mới đói. Ở nhà với mẹ con tôi được dăm bữa, cha lại đi. Thửa ruộng nhà tôi rặt dấu chân đàn bà và con trẻ. Vài ba gã đàn ông mồm lấm hơn gót, thi thoảng đi qua vẫn quăng vào tai mẹ tôi những lời chẳng rửa ráy bao giờ. Mỗi lúc như thế, mẹ tôi thường cất đi cái dịu dàng và những nết na vốn có, mà cố rặn ra một lô xà beng, dao búa. Mẹ nói năng như ném đá, và tôi thấy thanh bình sau những sắt thép ấy của mẹ. Tôi thường nhổ cái lưỡi dài vào gáy đám đàn ông ma trơi ấy. Mỗi khi đuổi được lũ mặt cày mặt cuốc đi rồi, mẹ bắt đầu khóc. Tôi không hiểu. Chỉ thấy một ngày dài như bị úp nón. Đến khi nào mẹ nhắc tên cha, chiếc nón mới được cởi ra.
    Rồi cũng đến ngày ông ngoại tôi ốm nặng. Là trẻ con nhưng tôi biết ông không thể qua khỏi. Chai rượu cả tuần không vơi. Chiếc gậy cô đơn và mốc thếch dưới gầm giường. Nhắn mãi chẳng thấy cha về, theo con đường buôn thuốc gánh, mẹ gửi gắm ngoại và tôi cho một cô bạn hàng xóm rồi đi tìm cha. Dăm hôm sau, mẹ vác đôi mắt sưng mọng quay về. Không có tiền, không có gạo, ông ngoại ra đi trong cái chăn cáu sờn vẫn đắp. Mẹ đẽo vỏ cây đinh thơm đốt tạ thay hương. Tôi và mẹ tiễn ngoại đi bằng những giọt nước mắt gầy còm, chưa kịp chắt tiết sau những đêm dài thao tháo. Nhà tôi trở thành thế giới của những tượng người. Mẹ không nói, tôi sợ mẹ im luôn. Chỉ còn vài cọng gió léo nhéo trên ngọn rặng tre làng là chẳng biết buồn hay vui. Nắng thì như ném lửa xuống lưng người. Lúa cháy, mùa mất, đàn vịt cỏ kêu đến nỗi những con niềng niễng ngủ kỹ trong bùn cũng phải lồng ra, nộp mạng.
    Gần trăm ngày ông ngoại mới thấy cha về. Cha vẫn chưa biết ông mất nên gánh gồng rất nhiều thứ: măng khô, mộc nhĩ, mật ong, gạo nếp tan, bạc trắng và một tổ ong đất để biếu ông ngâm rượu chữa khớp. Nghe mẹ nói áo quan ông bằng chăn, cha gào rống lên một hồi rồi cầm nắm bạc chạy sang làng bên, tha về một cỗ quan tài bằng gỗ trậm (hồi nghe lỏm chuyện gốc bòng, tôi biết gỗ trậm rất được chuộng làm áo quan, vì gần như không mục). Cha giục mẹ thịt con gà trống cha mới mang về. Đồ xôi bằng gạo nếp tan. Ngâm rượu ong đất. Xong, cha lẳng lặng kéo chiếc xe cải tiến chở tấm áo quan đi trước, tôi và mẹ ôm lễ theo sau. Ra tới nơi, cha đặt tất cả lên mộ ông, thức thưởi khấn:
   - Miếng cơm thời buổi này chẳng khác gì cướp giật. Thầy thương con về ăn xắt gà, nắm cơm nếp, uống hớp rượu nọc ong cho khỏi đau lưng, rồi con sửa áo... thầy ơi...   
    Đợi hết tuần nhang, cha quay lại bảo mẹ và tôi về trước. Một mình cha tất bật đào ngoại lên, đặt ngoại nằm ngay ngắn vào trong quan mới, rồi lại chôn ngoại xuống. Lạy ngoại ba lạy xong, cha về ngang qua con sông con cuối làng, nhẩy tùm xuống tắm rồi uống hết chai rượu cúng. Lúc tôi và mẹ tìm đến nơi, cha đã nằm rũ như chiếc lá úa bên ghềnh nước. Mẹ và tôi hì hục khiêng cha lên xe cải tiến, kéo về. Quẳng cha lên giường, mẹ bỏ ra hiên ngồi thùi thụt. Còn tôi, lâu lắm mới có dịp ngắm cha ngủ ngoan như tôi lúc chưa biết thế nào là nói và thế nào là hát.
   
***
   
Đêm ấy, tôi lại nghe thấy cha bảo mẹ bỏ làng theo cha, nhưng mẹ không chịu. Có lẽ hạnh phúc ông ngoại gói ghém cho cha và mẹ chỉ đến đấy. Cha đi rồi, mẹ cũng gửi tôi cho hàng xóm rồi theo người làng đi buôn thuốc bắc. Tôi khóc thảm thiết. Cha tôi thi thoảng cũng về, và chẳng lần nào gặp mẹ. Cha bảo đón tôi đi, nhưng tôi sợ mất mẹ hơn mất cha. Có lẽ vì tôi đã quen xa cha từ lúc lọt lòng, và cũng quen mắm môi chờ sự âu yếm của mẹ, dù chỉ là tết lọn tóc. Thời gian đầu, mươi ngày mẹ đã về. Tôi thường ôm mẹ thật chặt, nhưng lần nào mẹ cũng đi mất từ khi tôi còn đang chìm trong giấc mơ sum họp.
    Căn nhà không có cha, không có mẹ sương dột nhiều hơn. Tôi ít biết điều đó bởi mỗi lần đi ngủ, tôi thường thích mơ. Ngoại và cha hiện về ngồi kể chuyện đàn bà dưới gốc bòng. Mẹ cần mẫn vá lại những chiếc quần mòn đũng... (cái khoảnh khắc hạnh phúc nhất của gia đình tôi mà tôi lại chưa một lần được hưởng). Tối tối, tôi nhìn ra con ngõ trống hoác khóc không ai dỗ nổi. Chị hàng xóm được mẹ tôi nhờ sang ngủ, tối nào bị anh bạn kéo đi đến nửa đêm thì thôi, còn thường thì vừa lên đèn đã nằm quay ra ngủ như chết. Tôi đợi mẹ chỉ với một đức tin duy nhất là để mách mẹ tất cả những gì mà tôi phải chịu đựng. Từ cơn đói như bị trâu húc vào bụng, đến chuyện bị gọi là con rơi, chuyện những đêm ngồi khóc ưng ức trong bóng tối chờ chị hàng xóm... Cả chuyện mẹ thất hứa để tôi lặn lội ra suối nhặt những viên cuội xếp vào góc nhà đếm ngày mẹ về...(!)
    Chuyện xảy ra thường xuyên quá, khiến lòng trẻ và đức tin trong tôi đã hóa thành sỏi đá. Tôi không khóc đêm. Không nhặt sỏi xếp vào góc nhà đánh dấu ngày mẹ đi nữa. Tôi đấm lại bất kỳ đứa nào dám gọi tôi là con rơi. Tôi không thèm giãn da mặt khi bị bọn lớn bắt tựa lưng vào gốc cây, tát nổ đom đóm mắt. Sự xúc động yếu hèn bị tôi đẩy cả xuống đôi bàn tay đang run lên bần bật. Tôi thua những ngón đòn bắt nạt rẻ rúm, nhưng lại chiến thắng chúng nhờ lòng sắt đá trơ lì. Với tôi, làm gì có nỗi đau nào đau hơn vết mẹ và cha đang xé.
    Dần mẹ về ít hơn cả cha. Cuộc sống khiến mẹ không còn cồn cào khi tôi phải ở nhà một mình nữa. Nhưng rồi cuối cùng mẹ cũng về đón tôi đi. Tôi không buồn, mà cũng chẳng vui. Mẹ bảo: “Cho bớt khổ”. Ừ thì cho bớt khổ. Chẳng có ai để mà chia tay. Chị hàng xóm thì tiếc rẻ vì không có tôi, chị không được thoải mái đi chơi với bạn trai, thậm chí còn hẹn anh đến ngủ với chị tại nhà tôi, còn tôi bị chị đẩy ra giường ngoài - cái giường mà ông ngoại tôi đã ra đi trong cơn đau quằn quại. Tôi lếch thếch đi bộ theo mẹ suốt hai ngày đường, chuyển đến hai lần xe thì tới một thị trấn nhỏ, nhưng sầm uất và rất nhiều hàng hóa. Tôi ngơ ngác trước rất nhiều người dân tộc lạ. Mẹ bảo đấy là người Tàu ở cửa khẩu Việt - Trung. Mẹ đã có em gái năm tháng tuổi với một người đàn ông Quan Hỏa. Da thịt cô bé còn nũn nhều, rất dễ thương. Nhất là cặp mắt Tàu, nhìn như trong ấy có cả cái già nua của ông ngoại, câu chuyện cổ tích của mẹ, cha và số phận đụn đẹt của tôi. Mặc dù rất yêu quí em gái nhưng tôi vẫn cảm thấy bị xúc phạm, bị rẻ rúm và thừa thãi. Chẳng có cách nào, chỉ còn cách chấp nhận bố dượng, và coi ông như ân nhân, cứu cánh cho chuỗi ngày không cười, không khóc.
    Tôi chỉ phải trông em và nấu cơm. Bên kia con hẻm chợ, trước nhà dượng là một gia trang lợp ngói âm dương lụp xụp. Cả ngày lẫn đêm, trong ấy vọng ra những chuỗi rên rỉ, quằn quại. Xen kẽ giữa hơi thở thô tháp của cánh đàn ông, là những tiếng rú và những tràng cười chói tai, hoang dã như của loài linh trưởng của đám đàn bà rẻ tiền. Đôi khi cũng có cả những tiếng đập phá đồ đạc, tiếng tát, tiếng đấm đá và tiếng chửi bới tục tĩu:
   - Tiên sư mày, thế mà cũng bảo mới à?
   - Cũ người mới anh, với lại anh vẫn đê mê cơ mà...
    Bốp, bốp!
   - Đồ lợn sề chó cái!
   - Sao anh lại đánh em?
   - Bị đánh mà có tiền, có đáng được đánh không?
   - Dạ! Đáng! Đáng!
    Ngay khi cánh cửa phòng đổ ra đường một gã đàn ông rệu rã, ả đàn bà hở hang và bất chấp đã lại thoen thoét nói cười, dang cánh tay đầy ắp vú đón chặn tất cả những người đàn ông ngang qua, với lời lẽ chỉ có ở cõi người dơi: “Anh ơi, vào đóng gạch đi”; “Nhìn em ngon thế này, anh không thấy xúc động sao?”; “Hôm nay em đen quá, anh vào em chiều tĩ tã, chỉ xin anh đủ mua lọ thuốc thắt bớt cái của em vào thôi”;...
    Những thứ âm thanh ô nhiễm có tần suất đại pháo cứ như thể đã nằm sẵn trong tai tôi. Tôi thấy sợ khi ở cạnh cái công trường xác thịt này mà không biết phải làm gì. Mẹ tôi dường như quen rồi nên chẳng bao giờ đọc được cảm xúc phát lộ trên mặt. Bây giờ thì tôi không còn thích thú ngắm đứa em gái như khi mới đến nữa. Nó gắt gỏng và trở nết hơn cả bà Độc già quê ngoại. Tôi sợ cái món ăn bằng tai không lấy gì làm vệ sinh mà nó bị hấp thụ ngay từ lúc lọt lòng. Ai dám đảm bảo cả tôi và nó, nếu cứ ở đây, một ngày nào đấy không trợn trạo, trơ tráo đến phát nôn như ở bên kia? Trong ánh mắt nó còn có thêm cái nhìn của ông bố dượng và đám đàn ông thường lui tới dãy nhà lợp ngói âm dương. Mặc dù tôi đã ý thức hết cỡ, cùm kẹp hết cỡ cái sự phốt phát non tơ, mũm mĩm nổi nét trên nền da trắng nõn (vốn là của mẹ); nhưng có lẽ cái tơ hớ tuổi teen vẫn bùng lên trong lớp áo ngực, và chiếc mông quần may chẽn. Một ngày, mẹ tôi địu em vào nội địa Trung Quốc móc hàng, ông bố dượng gọi ba, bốn gã đàn ông cả ta cả Tàu, đầu cạo trọc, đeo kính đen, đi giầy khủng bố, ăn vận toàn đồ “ngố”, cưỡi xe hai ống xả đã lóc hết sơn, thả ra thứ tiếng nổ làm rung chuyển cả thị trấn. Ông bố dượng đưa ra năm ngón tay, gã thổ phỉ giơ ba ngón. Ông bố dượng khăng khăng năm ngón tay, gã kia vẫn ba. Đám đàn ông lượn quanh tôi, nháy mắt rồi bỏ ra xe, nổ máy rồ đi. Một gã ngồi sau còn huơ về phía tôi bốn ngón tay thô gộc như bốn chiếc vuốt thú...
   

***

    Cha cũng làm mộc ở gần cửa khẩu ấy. Cái nơi mẹ tôi khăn gói tìm cha dạo ông ngoại ốm, cha đã bỏ đi thêm ba, bốn chốn nữa rồi. Hồi ấy mẹ sang không gặp cha, chỉ thấy người đàn bà ôm một đứa con trai bụ bẫm quanh quẩn trong hai gian nhà tranh, giống y như những ngày mẹ sinh tôi, còn cha thì đi tìm sự sống của cả nhà ở cuối trời xa vòi vọi. Theo lời cha, chuyện bắt đầu từ khi ông mo cứu cha thoát khỏi cái chết do rắn hổ cắn. Cha liền về làm con nuôi để cung phụng ông lúc cuối đời. Rồi mọi chuyện diễn ra na ná như chuyện của cha và mẹ. Nếu kể theo thứ bậc thì tôi là cả (mà tôi có thực sự là cả không, tôi cũng không biết nữa?), em trai ấy là thứ hai, cô em gái lai Tàu là út. Ngày mẹ sang đây chung sống với ông người Tàu cha cũng biết, nhưng cha tránh gặp. Hôm mẹ đưa tôi đi cha đứng bên vệ đường nhìn theo vì sợ chạm cái nhìn lành nhưng lạnh và dường như chứa đầy căm phẫn. Cha sợ cả những giọt nước mắt chứa chất hình ảnh và sự phó thác của ông ngoại tôi. Cha bắn tiếng với một người hàng xóm của mẹ:
   - Nếu nói đến thứ gì đểu giả, tráo trở, đê tiện và điêu toa nhất trên cõi đời này thì đó là bọn đàn ông. Chúng có thể ngồi ở ngã ba đường, đếm từng người đàn bà qua lại và thao thao rằng đã được ngủ với tất cả. Trong hành trình tồn tại của mình, chỉ cần người đàn bà nào cho bọn ấy một cơ hội chào hỏi là y như rằng, nó vác đi khắp thiên hạ mà giễu là mới chỉ ho một tiếng con ấy đã chết lăn chết lóc, bám riết lấy nó để tìm cơ hội dâng lên tất tật mọi thứ. Thực tế thì, cả đời bọn ấy thậm chí còn không có được cái diễm phúc bị đàn bà nhổ nước bọt vào mặt. Đàn bà thường chết vì cả tưởng.
Bà kia tròn mắt kinh ngạc:
   - Nhà bác sao thế? Bác đang đập vào mặt bác đấy à?
Cha tôi rầu rầu:
   - Vâng, bá ạ. Đàn ông nên thấy kĩ bụng đàn ông. Tôi nhờ bá nói lại với Hạnh bấy nhiêu gan ruột. Đừng để bọn chó ấy cái xương không có nhưng lại tán thưởng nhau là vừa được ăn miếng thịt trên bàn thờ.
Còn với tôi, cha lại bảo:
   - Đàn bà phải học cách đểu cáng của bọn đàn ông để thế giới này bình hòa. Kiếp sau tao thà là cái giống nửa cái nửa đực…
   
***

Sau cái ngày ông bố dượng có ý định bán tôi, tôi theo cha men vào con đường rừng lởm chởm đá tai mèo, ở cuối con đường đó cũng có một ngôi nhà hai gian (thú thực tôi không biết trong suốt quãng đời mình, cha đã làm bao nhiêu ngôi nhà hai gian như thế. Một cu em đang đằm đất với mấy đứa trẻ xóm. Tôi bế thốc đứa em trai hơn bốn tuổi, chưa một lần gặp mặt, rồi đưa ánh mắt tò mò nhìn cha mà không dám hỏi. Cha đẩy cánh cửa bằng tre, không có khóa, mọt ăn óp ép sang một bên, dắt tôi vào ngồi xuống chiếc sạp trải một hàng đệm đen đúa, cáu mủn. Với bàn tay thô tháp xoa lên đầu cu Lem, cha gượng gạo lên tiếng:
   - Cu Lem chào chị cả đi!
   - Chào chị! Bằng giọng nói lơ lớ của một người dân tộc cố học nói tiếng phổ thông, cu Lem ngoan ngoãn chào tôi, nhưng vẫn nhìn lạ lẫm.
   
Sai lầm của cha là đã không nhờ các bậc cao niên đặt tên cho con nên ngay sau khi ông mo chết, cha phải làm lều, đưa dì “ra nhà” và bị coi như người ngoài họ. Từ đó, những người nhà dì liên tục đến bắt dì đi cúng ma, làm “lý”... Lần nào dì cũng vác về một bộ mặt và tấm thân no mọng máu, bởi những đòn roi trừ ma, tiễu quỷ. Cha xuýt xoa, dì thì im lặng. Im lặng cả khi yêu cha và cho cu Lem bú. Cuộc sống như bản án nặng trĩu, trôi đi trong cơn hoang mang, lo lắng. Cha sợ cu Lem cũng bị bắt đi làm mồi nhử ma, rồi bị trói, bị đánh, bị dìm xuống nước, bị nướng trên lửa...
    Đến một ngày, con ma không nhất trí để dì sống với cha nữa, dì bị người nhà lôi đi trước sự bất lực của cha và nỗi tuyệt vọng của cu Lem. Cha bế cu Lem ngằn ngặt nhìn theo bóng dì cho đến khi mặt trời rơi xuống dãy núi phía đầu nguồn con suối Thẻ, mà lòng như đang chảy máu. Ngày ngày, cha ôm cu Lem sài đẹn ngặt nghẽo ra đứng vớt vát về phía xa xăm, nơi có những áng sương mù, phủ một lớp mờ ảo, vô vọng lên vạn vật. Ở phía ấy, có người nói cho cha biết dì ốm nặng lắm, nhưng đã là người dưng rồi nên cha không có lý gì đến thăm dì được. Cha chỉ còn biết gói một khoản tiền vào tấm vải mộc hồi còn con gái dì tự tay dệt, sau này may áo cho cha, rồi nhờ người cầm sang cho dì. Không lâu sau, chính người bạn được cha gửi gắm trách nhiệm của cha đi ấy, hộc tốc quay lại báo tin, bên đó đã cử một đoàn người mang giáo mác, gậy gộc sang bắt cha và cu Lem về, giết lấy máu làm lễ tế ma để cứu dì. Vậy là cha gánh một bên đồ nghề, một bên cu Lem, vượt núi, lội khe chạy miết cả ngày đường không nghỉ. Cuối cùng cũng đến được một cụm dăm nhà dân làm tạm bợ vào lưng chừng rừng, giống như một cơ sở hai dùng để chăn nuôi, cấy cầy. Sau này mới biết, xóm ấy gồm những người khác họ, do không giành được quyền sinh sống bình đẳng với một họ lớn khác, phải bỏ bản đến đây khai khẩn sinh nhai. Gặp được cha họ cho rằng duyên kiếp trời xui nên quí lắm và coi cha như người trong họ. Cha ở lại đó làm nương rẫy, đốn cây xẻ gỗ và giúp họ làm những ngôi nhà to, kiên cố thay cho những túp lều bán niên một dựng.
    Một bữa, cha được vời đi đóng cho tộc trưởng một chiếc tủ tường để tộc trưởng đón con dâu. Anh con trai tộc trưởng đã có một đời vợ và bốn đứa con. Vợ anh bị băng huyết chết được dăm tháng. Nhà không có người làm, anh phải đi tìm vợ mới để chăm sóc bố mẹ già và nuôi đàn con dại. Cha và cu Lem đến và  được sắp xếp cho hẳn một gian ở chái của ngôi nhà sàn dài gần bằng một tiếng hú. Hôm khánh thành tủ, cũng là hôm anh con trai nhà chủ dẫn người yêu về ra mắt bố mẹ. Đang lúi húi chơi những mẩu gỗ vụn hình đầu xe, cu Lem bị một người lạ quáng gà do bước ngoài nắng vào vấp phải. Trong khi ngã sõng soài ra đất, nó chợt nhận ra dì và gào hắt lên. Cha đang làm gần đó lao đến, không để cho cả nó và dì biểu lộ thêm một phản ứng nào, một tay bịt miệng, một tay bế thốc cu Lem lên, mặc cho nó khóc òng ọc trong cuống họng, cha cắm cổ chạy về phía núi. Đợi già hai hôm, khi mà con trai ông tộc trưởng đưa dì về bên kia rồi, cha mới quay lại thanh lí hợp đồng, tiện thể hủy luôn hai bản hợp đồng mới ký với các gia đình quanh đó, rồi gánh cu Lem băng qua bốn năm thôn vùng cao khác. Mất mẹ, cu Lem hằng ngày theo cha đi làm như một phó nhỏ. Nó phải lớn trước tuổi. Nhìn nó, cha bảo thể nào nó cũng hơn cha. Cha không muốn nó bằng cha, vì như thế là kết xấu...

***
Ngày tôi về, cha đã là một con sâu rượu chúa. Sáng ra, bao giờ cha cũng uống cạn một ca nửa lít rượu sắn rồi mới xách tràng đục đi. Trưa ăn cơm ở nhà chủ, tối về khi thì mang nắm xôi nướng, khi thì vài miếng mỡ luộc, nhìn đã thấy trắng ởn cả dạ dày. Hôm nào không có thức ăn (mà thường là chỉ có rau rừng và muối trắng), cha bảo cu Lem hát liên khúc nhạc vàng, nhạc đỏ, thậm chí cả nhạc tự biên của nó và múa võ cào cào, võ vật chó... để cha nhắm rượu. Ngọn đèn dầu được cha tự chế từ vỏ lọ toa, thường tàn đi sau mỗi bữa rượu tối ngồi nhâm nhi nhắm nhạc của cha. Tôi cười chảy nước mắt, còn cu Lem thì lăn ra ngủ sau một trận chiến cực nhọc. Bữa ấy, tôi đi làm nương thuê về muộn, trong nhà tiếng cha như đeo đá vào lưỡi:
   - Thằng mất dạy, mày chống lại tao à?
    Tiếng cu Lem chều lên từng cơn yếu ớt:
   - Con sốt mà cha.
   - Sốt cũng phải hát!
    Tôi chạy xộc vào nhà:
   - Để con hát thay em.
   - Tao không nuốt nổi cái giọng chó hóc của mày.
   - Thì con diễn trò.
   - Mày có trồng chuối ngược được như mấy thằng cao đạo không? Chúng nó trồng ngọn chuối xuống mà vẫn trổ buồng đấy. Thời buổi của những sự ngược đời. Phàm cái gì xuôi thuận đều chết đứng cả.
    Nói đoạn, cha bỏ ra ngoài nhắm rượu với gió. Ngọn gió rừng reo như xả nỗi ê chề vào không trung. Gió reo, suối cũng reo. Chỉ có lòng tôi là nặng trĩu như đá hộc. Ước gì được lăn một trận, đi đâu thì đi, rồi thôi không làm đá mà cũng chẳng làm người…

***

    Vài tối cha lại dẫn về, khi là mấy cán bộ xóm, cán bộ xã… rồi bảo tôi chạy thức ăn, đãi đằng trong điều kiện âm thủng túi. Hết tốp nọ đi, tốp kia lại tới. Đằng đẵng suốt năm này sang năm khác. Mỗi lần một cuộc say ba ngày. Cha nâng niu những mối quan hệ đơn chiều ấy, vì chỉ có cha bị mời chứ chẳng bao giờ được mời. Mãi khi chuyển sang xóm Bứa này tôi mới hiểu. Bên cạnh món rượu… tự sướng (cha hay nói thế) còn có rượu cho thường trú, rượu tìm việc, rượu an ninh, rượu hành nghề, thậm chí cả rượu cho cu Lem chơi và rượu để tôi yên… Nhiều khi cha không có nhà, hai ba ông khách tới giới thiệu là cha nuôI của cha đến thăm con; là anh kết nghĩa của cha đến thăm em; là em nuôI của cha đến tìm anh có việc… Họ báo cơm, báo rượu rồi tự chúc, tự say, rồi vô tư ngủ lại… (tôi không thích, nhưng biết phải có lý do thì mới có những cuộc tìm cha ăn vạ như thế). Lúc tỉnh họ ngọt ngào gọi tôi là cháu nội, là con... lúc say họ xưng anh với tôi như bằng vai phải lứa. Họ nháy mắt, họ ra những ký hiệu kỳ lạ. Lúc ấy, tôi ôm cu Lem cầu mong cho cha sớm gọi cửa bằng cái cách riêng của ông, là đập cả thân mình xô xiêu vào liếp nứa...
Mỗi lần nhập thổ là cha lại phải làm không công tới hàng chục công trình cho các vị chức sắc địa phương, mới hòng được thường cư an nghiệp. Sau khi đã đóng hết đồ chức sắc rồi, đến thường dân mới được gọi là làm công ăn công. Trước đây, cha thường đến tận nhà chủ đóng để kiếm bữa cơm nuôi mà các tốp thợ tiên phong đã cố tình để lại “luật”. Người dân tộc họ rất thích sự rõ ràng. Cơm nuôi cho thợ được qui định ngay trong hợp đồng là ngày ba bữa, hai thịt một tiết canh. Để có tiết canh buộc chủ nhà phải giết một con gì đó. Thường thì cánh thợ nào cũng làm mau mải cho xong để đi nhận công trình khác. Cha tôi chẳng giống ai. Ông thường mất gấp đôi thời gian, chỉ là để được uống rượu. Mỗi khi nhà hết tiền, ông thường tha tôi và cu Lem theo với danh nghệ thợ đè, thợ vịn. Để gia chủ khỏi sốt ruột, cha luôn miệng sai chị em tôi chạy như con thoi. Khi thì đè cho cái ván, lúc vịn hộ bộ khung, hay làm những cái chốt tre, những con kê mà chẳng dùng vào việc gì cả. Miễn là chủ nhà thấy chị em tôi quan trọng!
Nhưng rồi cha bỗng không lấy ăn uống làm chuẩn nữa, mà giao kết: “Nhận gỗ, trả đồ tại xưởng!”. Tôi lo lắng hỏi, cha bảo đã có cách: “Sẽ lãi gấp 5 - 7 lần so với tiền công, cơm ăn và rượu uống trước kia”. Vậy là từ đó, cứ hễ cha tôi nhận được một cái giường thì ông cũng đủ gỗ đóng và bán ra một cái giường khác. Thậm chí, do các bậc cao nhân xã nhà không biết tính toán, ông khai tăng gỗ, đóng một cái còn lãi được hai, ba.
Chẳng biết từ bao giờ, cha trở nên thiếu trung thực. Thậm chí ông còn tự hào và thấy mình phải có trách nhiệm dạy dỗ chị em tôi biết cách thiếu trung thực. Cha cười đắc ý cho cái sự gian dối đớn hèn của mình. Tôi sợ ông. Nhưng tôi cũng sợ đói khổ. Mà phần đa cái đói khổ chỉ ập đến mỗi khi bị trúng phải dối trá, lọc lừa. Chưa bao giờ cha được đối xử tử tế như một người thợ. Hầu hết cha bị coi là ăn mày - một loại ăn mày nghề nghiệp. Nhiều khi cha đóng xong một lô: xa lông, búp-phê, tủ đứng, tủ tường, giường mô-đéc, sập chân quỳ... không sai sót một chi tiết nào trong giao kết hợp đồng, nhưng sướng lên, chủ không nhận đồ và bắt cha phải đền lại gỗ(?) Có khi giao hàng, họ vẽ ra đủ thứ sai, từ qui cách, mẫu mã, thậm chí cả cái màu gỗ khi đánh véc-ni rồi khác với khi còn đang làm sàn chuồng trâu nhà họ... thế là họ chỉ trả nửa, hay một phần tiền công; cắt, phạt tiền ăn... Những chuyện đại loại như thế, xảy đến với cha như ba bữa ăn trong ngày. Cha bảo:
   - Đời khốn nạn thế, thử hỏi trung thực được không?
Mỗi lần tranh luận, ông đều cực đoan vậy. Tôi vẫn biết cha tôi non triết, nhưng cái nhẽ ở đời thì dường như ông có lý ngay từ trong lời nói hằn học và sòng phẳng kia. Vậy là ông quyết định cải tiến phương thức và đạo đức hành nghề. Ông bảo: “Là đời ép cha thôi!” Việc đầu tiên là ông đục một pho tượng đạo chích, rồi đặt lên bàn thờ. Ông thờ thần ăn cắp! Biết ăn cắp thì mới biết vun vén che đậy. Cha bảo tôi, nếu thấy nhục thì đi theo mẹ.
Cha mà không ăn cắp của các vị cao nhân ấy, quả thực cũng chẳng biết lấy gì mà sống. Tại sao người ta lại gọi các vị ấy là cao nhân, tôi không được rõ. Chỉ biết có bận uống rượu tại nhà tôi, tôi thấy các vị phân vai văn hóa: Ông giữ cương vị Đảng học hết cấp 1, theo dở nửa năm đầu cấp hai rồi bỏ học được coi là… cao văn nhất. Ông chính quyền cao văn nhì vì tốt nghiệp cấp 1 xong thì ở nhà chăn trâu. Ông tư pháp xã học xong chương trình lớp 3 phổ thông, cao hơn ông văn phòng học xong lớp 3 bổ túc… Nói chung là các vị ấy đều biết đọc biết viết. Các vị còn khoe, các vị chỉ cần dọa nghỉ là huyện sẽ hoắng cả lên, xe to xe bé vào vận động, động viên, chia sẻ kịp thời cho các vị ổn định chuyện vợ con, chuyện bát cơm cái quần để sơm sớm mà quay lại nhiệm sở. Bọn trẻ bây giờ một trăm phần trăm học hết cấp 3 nhưng xin lỗi, chẳng hơn gì thằng chăn trâu, mù chữ. Còn nếu bàn tới năng lực quản lý thì càng ôi thôi về vấn đề nhân sự.
   - Vậy thì chỉ chúng tớ chứ còn ai. Anh đừng nghĩ mai bầu cử rồi mà lạnh tanh với bọn này nhé?
   - Dạ, em đâu dám, quan bác khéo đùa. 
Cha nhũn như ốc sên gặp muối. Mà nói thật, có phải cha chỉ nai lưng ra nuôi hai chị em tôi không đâu. Cả các ông quan làng, quan xã vẫn ghé thăm nhà. Ngay cả tay kiểm lâm sắc phục tề chỉnh, lăm lăm cái thước và một xấp hóa đơn cũng năng lui tới:
   - Ở cái xứ khỉ ho cò gáy này mà cũng có một đại gia làm ăn phát phất. Anh em tôi bỏ lỏng là có lỗi với Đảng, với nhân dân rồi. Chẳng biết đâu, cũng bởi cái lỗi ấy mà Đảng không tin dùng nữa thì xin cởi trả áo đi theo mánh thợ mộc, may ra mới có bữa cơm bữa cháo cho mẹ con đĩ sề.
    Cha mềm oặt mời hắn vào nhà:
   - Phải tội em chết. Thợ mộc ăn phoi bào chứ nào dám giò khoanh thịt xắt. Đã ba tháng nay, đóng giúp cho mấy bác cai quản địa phương, các cháu đói quá.
    Tay kiểm lâm tức thì đổi giọng:
   - Cái nhà anh này giỏi giá họa. Cán bộ nào lại đi ăn không ăn hổng của dân? Vì anh tha hương nên hợp đồng nào các sếp chả phần anh hậu hĩnh?
    Cha chợt chững lại, rồi lơ lả cười:
   - Gớm! Chẳng có cái gì qua nổi mắt bác quan chủ rừng. Thôi hôm nay gác chức việc lại, ở chơi với nhà em, bác em ta cụng chén ra chuyện.
    Hắn vờ vịt:
   - Tôi bận việc lắm, nhưng nể anh... Mà này, có dễ anh hơn tôi ngoài chục tuổi đấy, hay ta kết nghĩa anh em nhé, tôi xin nghe theo những gì anh chỉ dạy. Từ giờ, cần thằng em này che đậy gì, anh giai cứ bạo miệng sai bảo.
    Cha tôi giãy lên sung sướng:
   - Quí hóa quá! Quan anh..., à chú em mở cửa cho thế, tôi đây xin làm người anh ngoan của chú.
    Tôi hiểu ý chạy ù ra cái quán ăn cổng xã, cắm đĩa thức ăn và chai rượu. Gã chủ quán khăng khăng:
   - Em gái ơi, cho anh xin em ba chữ: Không mua chịu! Cha con em đã cắm vị chi bằng năm tạ lợn hơi rồi đấy, cô em ạ.
    Tôi xoắn lấy gã, van vỉ, gã bảo:
   - Em cho anh hôn một cái, anh cho cắm... cả người?
    Cũng như nhiều lần trước, đến ngang đường, tôi dốc rượu ra tay rửa má. Về đến nhà, cha tôi và tay kiểm lâm đã ngồi xếp bằng trên chiếu. Sợ khách phát hiện ra mùi rượu, cha lôi xuống bếp, lấy gáo nước hắt vào mặt tôi, rồi đay nghiến:
   - Mày không nốc trước thì chết à?
    Gạt nước trên mặt, tôi tươi cười bưng mâm lên. Tay kiểm lâm kéo tôi ngồi lại để vừa nhắm rượu vừa ngắm. Cha tôi khen hắn đắc tửu. Uống rượu với nhan sắc đàn bà thì quả là... cao thủ! Hắn cười rung cặp mắt lồi, trắng dã.
Cái đạo rượu của cha tôi, vẫn như thế, cuối cùng luôn là một món quà, giá trị tùy theo cấp chức. Lần này là biếu trắng một bộ xa lông và một cái tủ chè. Uống rượu ròng rã từ trưa đến chiều, hai lần tôi phải đi vay thêm thức ăn, và hai lần rửa má. Cuối cùng thì tay kiểm lâm cũng say. Trước khi gục xuống sạp tre, hắn còn nhắc:
   - Là anh trai tặng cho cô Đào Thị Huệ (vợ hắn), chứ không phải thằng em đâu nhé. Anh trai nhớ kiếm cho cô ấy bộ khung lát chun. Ván thưng bằng lát da đồng cũng được, nhưng riêng cái mặt bàn và đôi cánh tủ, nhất thiết phải là lát hoa xanh đấy!
    Nằm đến gần tối thì hắn được một người làm ở văn phòng ủy ban xã đến dìu đi. Cha tôi ngồi ôm mặt khóc như một đứa trẻ:
   - Mả mẹ cái bọn thú vật ăn thịt người. Xương con tao đấy, cứt con tao đấy, ăn nốt đi rồi hãy về…
    Tôi đã để ý nhiều, mỗi khi uống rượu với khách, cha thường chỉ ngồi nhâm nhi chén rượu suông và vâng dạ cho đến hết bữa. Sự cam chịu bức nén không chỉ là ý thức mà tự lúc nào trong cha, nó đã biến thành bản tính, thành nghĩa vụ với đời. Cha nhún nhẫn như một con trâu cày thuần thục, còn sức còn kéo, còn thở còn làm.
Hôm sau, cha lôi đâu mấy tấm ván gỗ tạp và một con chó về nhốt vào gầm giường. Tôi thấy cha rọc nhỏ những cái khung gỗ lát chun trong số gỗ ông chủ tịch xã gửi cha tôi đóng trọn bộ: tủ, giường, bàn ghế... ra làm ba phần. Cha lấy một phần, dùng cốn gắn vào mặt ngoài bộ khung gỗ tạp. Sau khi vo ống tơ, tuốt chỉ, chạm long, ly, qui, phụng... trông chẳng ai biết phía sau lớp gỗ đẹp được trau chuốt hình thức cầu kỳ, lại toàn là gỗ tạp, gỗ chất lượng kém. Xảo thuật ấy, sau này cha tôi đặt tên là “thếp vàng”. Tức là làm khung hoàn toàn bằng gỗ kém chất lượng rồi dán lên mặt ngoài một lớp mỏng gỗ quí. Cha tôi ép những tấm ván gỗ rởm vào những chỗ kín không nhìn thấy, vị trí nào phô ra như mặt tiền, hai hồi và đình tủ cha vẫn đóng bằng ván gỗ lát hoa của chủ, nhưng đều được canh mỏng ra làm đôi. Cả những chiếc thang bên trong, cha cũng rọc chéo thành hai cái, một đầu dầy một đầu mỏng, lắp đảo đầu. Cha tôi còn tái sinh những mẩu gỗ ngắn thành những cái khung dài, chắp nối nham nhở, đặt ở vị trí khuất. Mỗi chiếc tủ hay bộ bàn ghế cha tôi ăn cắp được hai phần ba gỗ. Tất cả đều đem bọc nilon rồi chôn xuống gầm giường, cạnh mõm con chó. Đồ đoàn từ bấy cha làm rất đẹp chứ không ào ào như thể trả nghĩa tiền nào của nấy nữa nên tiếng lành đồn xa. Mẫu mã luôn được cha cải tiến sao cho vừa đẹp vừa lạ, lại vừa đỡ tốn gỗ. Trước mặt khách, cha thường trèo lên trên nóc tủ dận như dận trạch, hành vi ấy ngầm quảng cáo cho sự vững chắc vô biên của sản phẩm.
Tôi không phải đi làm thuê nữa mà ở nhà đánh giấy ráp cho cha. Những lúc không tìm được hợp đồng mới, cha lôi gỗ chôn dưới gầm giường ra đóng đồ bán. Gỗ quí thì đóng tủ, đóng giường; gỗ thường thì đóng chạn, đóng bàn ghế mộc, mâm ăn cơm, hòm đựng quần áo... Ông hạ bút tính toán, lãi lên tới 489% so với đóng đồ cơm nuôi. Cuộc sống suôn sẻ hơn trước, nhất là từ khi nâng cấp ngoại giao. Ngoài giấy phép hành nghề thợ mộc, cha còn được cấp phép tận thu gỗ chết trên rừng đặc dụng. Nhưng thực chất là cha thay mặt ai đó hạ những cây gỗ lát, gỗ nghiến, gỗ chò... hàng trăm năm tuổi để xẻ, rồi chia chác.

***

Năm cu Lem 16 tuổi, sức khỏe cha tôi đã sa sút trầm trọng. Người khô xác lá. Da như nghệ đổ. Tay chân cha run rẩy, không giơ nổi cái đục lên nữa. Cha tuyển công nhân là những thanh niên thất nghiệp trong bản. Sở trường của bọn họ là leo núi và phá rừng. Nay gò vào lê la, chạm khắc, tỉa tót, chuốt trau những thứ mong manh, tưởng chừng như là hư không thì họ thường xuyên cắt hụt gỗ, đục nhầm mộng, sàm gãy khung… Những góc nối ống tơ chẳng cái nào khớp với cái nào, cứ lè ra như một cái biếu cây chọc thẳng vào con ngươi. Cha chửi rủa, phá phách vung vãi. Thợ nhỏ bỏ đi, gỗ nát vụn nằm chồng đống củi. Chủ gỗ chẳng bắt đền được gì ngoài bộ quần áo vá trên người và mấy cái đồ mướp gỉ. Để có cơm, cha dắt tôi và cu Lem đi dọc khắp các ngả đường Tây Bắc. Lần lượt đi qua bốn tỉnh, toàn bằng những con đường mòn liên xã. Đi nhiều thế mà tôi và cu Lem chưa một lần nhìn thấy đường nhựa và các khu đô thị lớn mà nghe nói nó đẹp long lanh như mắt, như da con gái.
Cu Lem đã lớn nhưng nó chỉ phụ lặt vặt chứ quyết không học nghề mộc. Cha và nó càng ngày càng tỏ ra xung khắc. Cuộc chiến đúng nghĩa của những người đàn ông thường xuyên nổ ra. Đến trận cuối cùng, rồi thì chẳng còn có thêm bất kỳ một sự tay đôi nào nữa:
   - Mày cút đi cho khuất mắt tao!
   - Tôi cũng đang muốn quẳng ông đi cho nhẹ nợ đây.
   - A, mày láo! Ông giết mày...
   - Ông mới là thằng... bố láo. Trước khi giết tôi, ông hãy giết ông đi, vì cái tội quẳng ra đời một lũ khốn nạn như tôi và chị cả...
   - ...   
Cu Lem quay lại bảo tôi:
   - Chị đi với tôi, kệ xác ông ấy.
    Tôi giận tím mặt:
   - Em cút đi! Chị không bất hiếu và khốn nạn như em.
    Cu Lem cười khẩy:
   - Chả nhẽ trên đời còn đứa nào khốn nạn hơn tôi với chị?
    Cu Lem đi, cha suy sụp hẳn. Đến rượu ông cũng không uống được nữa. Tôi thức trắng bên những cơn co giật, quằn quại phát ra từ bên trong cái thân thể khô như xác ve của ông. Bây giờ thì chúng tôi không có nhà nữa. Ngôi nhà (tạm gọi thế) ở Khe Bứa đã là ngôi nhà cuối cùng cha con tôi có thể làm, và đó cũng chính là ngôi nhà mà cha con tôi tá túc lâu nhất. Từ bấy đến nay, đã hơn ba năm, chúng tôi không có nhà. Chúng tôi lênh đênh vạ vật ở bất kỳ gia đình nào gặp được. Bằng khả năng độc thuyết, cha vẫn khiến những chủ gỗ mới bị mắc lừa, ký cót những hợp đồng mang tính trợ cấp. Đã mấy năm nay - kể từ khi cha ốm, tôi đã phải học đóng những bộ bàn ghế mộc, cái chạn bát, hay chiếc giường rẻ quạt đơn giản. Những mặt hàng cao cấp tôi chịu. Biết thế nhưng cha vẫn ký hợp đồng, hơn nữa còn ghi rất rõ: “Chủ gỗ trả trước 50 phần trăm tiền công để mua sắm đồ nghề, linh kiện và lương thực!”. Đến khi những súc gỗ ngon như miếng giò nạc của các gia chủ bị tôi phá nát thì cũng là lúc chúng tôi tay trắng ra đường. Có khi còn bị đánh. Họ đánh một ông già không còn sức sống và một đứa con gái, việc làm mà không mấy ai trên đời này chịu hạ tay. Tôi không bao giờ dám oán họ mà ngược lại còn rất thương họ vì có nhà, cả đời tích nhặt, luồn lót mới có vài ba mét khối gỗ hòng cải thiện nội thất, vậy mà cha con tôi, vì sự sống đã đang tâm phá nát. Thực lòng thì cha tôi không muốn thế. Tôi càng không muốn thế. Hơn lúc nào hết, tôi mong mỏi kiếm sống bằng đúng thực lực của mình, nhưng vì tôi là con gái, tôi bất lực. Cha đã luôn ngồi bên để chỉ bảo tôi từng đường cưa, mũi đục, như tôi đã bất lực trong sự gắng kiết của ý chí.
    Tôi không nhớ lần bị đuổi đi thứ bao nhiêu như thế thì cha tôi chết. Cha chết giữa đường. Cha chết không quan, không hoa, không kèn, không trống. Cha chết mà miệng cha vẫn cười: “Đàn bà phải học cách đểu cáng của bọn đàn ông để thế giới này bình hòa”. Tôi thương cha, nhưng cũng oán cha bởi cái triết lý tồn tại bất cần trung thực ấy. Tôi chạy vạy, van xin khắp các nhà không quen biết, cuối cùng cũng có người cho bát gạo, quả trứng để cha đi khỏi đói. Không có tiền chôn, tôi cứ ngồi bên cái xác của cha như thế và cầu nguyện cho cha nhanh bốc mùi. Thiên hạ vốn sợ ô nhiễm sẽ lôi đi vùi hộ...

***

Còn lại một mình, tôi lang thang khắp các ngõ bản xin làm thuê, xin ở thuê. Bọn đàn ông lôi về nhà ở thử dăm ba hôm rồi lại hất ra đường với lí do không hợp. Lần cuối cùng (đời tôi quá nhiều lần cuối cùng), tôi chìm vào cơn say định mệnh. Khi tỉnh dậy, tôi nhận ra mình bị nhốt trong một căn phong của dãy nhà lợp ngói âm dương. Tôi đang ở gần mẹ! Nhưng tôi cay đắng khi biết mẹ đã bị bán qua tay dăm, bảy thằng đàn ông, để đẻ cho bọn chúng những đứa con mới. Gã dượng người Tàu yếu ớt và dăn dúm tựa hồ đống da trâu vứt ở góc phòng. Ngôi nhà ngày xưa vẫn thế, chỉ khác là nó trở thành một tiệm bán buôn hóa mĩ phẩm. Bà chủ là một cô gái trẻ tên là Wen Ding. Các bạn bán hoa bảo, đó là con gái duy nhất của dượng, với một người đàn bà Việt. Chồng cô ta là một trùm buôn bán hêroin và phụ nữ. Hắn rất ít xuất hiện, nhưng mỗi khi về là lên xe xuống ngựa. Chiếc Mercedes-Benz SL-Class trị giá trên 600 ngàn USD của hắn nhả khói vào bất kì mặt ai ở cái thị trấn này.
Mỗi buổi vắng khách, tôi lại lê la sang tiệm mĩ phẩm Wen Ding. Ôi, em tôi! Nó có nước da trắng nõn, bộ ngực luôn phập phồng thổn thức của mẹ, của tôi, và cặp mắt một mí đẹp bí ẩn của người cha Tàu. Thỉnh thoảng ông bố dượng tôi cũng mon men ra ngoài, nhưng lập tức bị Wen Ding đuổi vào. Tôi lõm bõm tiếng Quan Hỏa. Wen Ding đối xử với bố không tốt lắm, chắc vì nó hận bố đã bán mẹ. Thế là em tôi cũng còn hơi hướng của sự tử tế. Đang nhận tư vấn mĩ phẩm từ Wen Ding thì chồng nó về. Cửa chiếc xe Mercedes vừa bật ra, tôi sững lại!
Tôi vụt chạy về bên này biên giới. Đằng sau, quân đầu trâu mặt ngựa chuyên nghề bảo kê cho chủ chứa gái mại dâm, sầm sập truy đuổi. Tiếng la ó và tiếng chân chạy động đất cả một vùng biên. Lúc hai thằng gần chộp được tôi thì tôi nghe hai tiếng súng nổ. Rất gọn. Rất gần. Hai cái xác đổ ập ngay sau lưng. Tôi ngoái đầu lại bắt gặp cặp mắt đau đớn và kinh ngạc.
Trên tay trùm maphia Lem, khẩu súng lục nhả khói vẩn vơ vào không trung...


M.A, 13.6.2009

3 tháng 2, 2013

THĂM THẲM ĐÊM


    - Bỏ thôi!
   - Bỏ thì chết đói. Mấy năm thế rồi, chưa sợ à?
    - Nhưng cứ nghĩ đến bố, bảy mươi mùa bơi mưa trong nhà, vẫn chưa có nổi cái chuồng lợn thế này mà ở, là tôi chỉ muốn nghỉ thở.
   - Tại bố dốc nhà mình chứ có tại bọn lợn nào đâu (ông nội: ải pú - tiếng dân tộc Thái, theo nghĩa đen tiếng Việt là: bố và dốc).

HẠNH PHÚC THÌ MONG MANH



  1.
   Nhã Mai quyết định viết. Viết cho mình. Lần đầu tiên như thế. Tự cảm nên chẳng quan trọng khen chê. Câu đầu tiên và cũng là cái tít bài đầu tiên: “Mẹ ơi, con xin lỗi!”. Bài thứ hai, phát xuất từ một câu hỏi: “Sống với nhau, cái gì là quan trọng nhất?”

HAI MẶT CUỘC ĐỜI


     Trước cửa ngôi nhà cũ như cọc gỗ Bạch Đằng, cắm một tấm biển (thực ra là một cái thớt cũ, chằng chịt vết băm), trên ghi hai chữ: “Quan tài!” bằng sơn đỏ ròng ròng. Cũng trước cửa ngôi nhà đó, ngang tấm biển kia là một tấm biển khác: “Phục vụ đám cưới, đám hỏi, đám đầy tháng, sinh nhật, sinh hoạt nhóm… từ A đến Z”. Một bên là hỉ sự. Bên kia lại là đại hạn. Nhìn cứ có cảm giác như gắp miếng giò trên cái xác! Chả ai hiểu chuyện gì. Bước chân vào, được hai người chạy ra, chào hàng:

DÒNG HỌ ĂN CẮP



    Những chiếc chông đá được nước dưới vực Quan Tài ngày đêm gọt mài nhọn rợn, đang há ngoác ra chờ hứng thứ tội lỗi từ trên trần ai đổ xuống. Tôi đờ đẫn buông tay cho mâm lễ vật xin vợ tuột thoát, trôi hút vào họng lũ. Con thuỷ thần không để lại một vết mỡ loang. Dòng sông chống chếnh. Núi rừng chống chếnh. Tôi chống chếnh như vừa nuốt nhầm nắm lá ngón. Tâm trạng đứt đoạn, rời lìa như khúc guột bị băm cắt. Sự bất định và chênh chao đổ vào não một quyết tâm bất dịch. Tự vẫn! Chỉ có chôn sống mình trong lòng hãn thuỷ, mới hòng gột sạch kiếp nhục này - kiếp nhục của một thằng thanh niên tử tế, không dễ gì chịu nổi.  

GIA ĐÌNH THỢ MỘC

        C

ái khung nhà tre tưởng chừng không thể đứng vững trước cơn gió bấc điên cuồng tốc lên từ khe Bứa. Từng vạt lá rừng khô cháy bởi luồng sương muối quét qua, chỉ sau vài đêm đã trút bay tan tác, để lại cả mảng cây hài cốt nỏ nang như một khu rừng chết. Bện xong phên cỏ cuối cùng đưa lên cho cha lợp, tôi chêm lửa bếp. Thế là tối nay không phải ngủ ngoài sương nữa, dù chưa kịp làm sạp, nhưng dẫu sao nằm bệt trong nhà vẫn hơn nằm bệt ngoài trời. Cu Lem đang hì hục vót những chiếc dăm tre, đóng xuống nền đất thành một cái hàng rào, rào quanh chiếc lá khô bị sâu cuộn giống như một cái kén tò vò mà nó bảo là nhà riêng mai sau của nó, thì nghe cha hỏi:

1 + 1 = 1,5

    Phượng lê bước trên con đường rậm rạp. Trên trời, mây phủ nước đá xuống người. Dưới đất, dây rừng trói lấy bàn chân. Ngoài dấu thú, chẳng có bất kì tín hiệu nào của con người.

BẾN ĐÁP ĐÀN BÀ

    N

úi Phó lợp quầng bóng thâm trầm xuống thung lũng Ten!
- Sao hôm nay mày chưa đi?

TRĂNG THU HUYỀN ẢO


Anh choàng tỉnh bởi tiếng đập cửa. Sau lưng bà chủ khách sạn Sơn Cầm, những sắc phục xanh lẫn vào ánh đèn hành lang màu nõn chuối. Đã lâu lắm anh mới lại có một giấc ngủ ngon đến thế. Anh đã cật vấn mình không biết bao lần là tại sao mình lại hay mất ngủ. Lần nào câu trả lời cũng là chẳng tại gì cả. Đời người đàn ông có hai mối quan tâm lớn là gia đình và công việc. Gia đình như anh đã làm cũng coi như không hổ thẹn. Vợ anh không phải nằm toài ra các bàn rượu để lấy lòng người ta, hay đại loại thế. Hoàn tất công việc ở cơ quan là về vun vén gia đình, kèm cặp đứa con gái đang tuổi ăn tuổi học, ngoan ngoãn, thông minh. Anh xả sức ra để đổi lấy thù lao chính đáng. Trong suốt quá trình công tác, anh tự chấm cho mình điểm khá. Không ỳ trệ, không ganh đua, cũng không biết nhiều chuyện của người khác. Quy tắc sống ấy anh tự học, bạn bè cho và thực tế nó đòi hỏi thế. Hồi còn trọ học, anh có hai người bạn thân là Hân và Đăng. Đăng theo học chuyên ngành ngữ văn và mơ ước sau này trở thành nhà thơ, còn Hân học tài chính vì chỉ thích có nhiều tiền. Hai con người ấy một cao một thấp, một nho nhã một to đô thô cứng, rất hay cãi nhau. Một lần, sau nhiều ngày chiêm nghiệm, Đăng nhà thơ triết sự:
   - Giá trị của con người là nhân cách. Nhân cách mới là nể trọng. Nó được xây dựng bởi ý chí kiên cường, không dao động, không toan tính được mất, tôn trọng thực tế, theo đuổi chân lý, không ngừng tiến thủ, khoan dung, chân thành, nghiêm túc, hoài nghi, phê phán và sáng tạo. Sự khủng hoảng nhân cách đang là nỗi lo lớn nhất, nỗi buồn dài nhất và nỗi khổ khốc liệt nhất. Vì vậy, ta phải đào luyện nhân cách bằng trình độ ngôn ngữ và bằng lý trí sáng suốt.
    Hân nằm bên phải anh, ngón tay ngoáy đầy lỗ mũi, buông lời ngồm ngoàm răng lưỡi:
   - Mày cứ nghĩ nhân cách là cái thứ chỉ cần sống lâu, học nhiều và quyết tâm là có không bằng. Đúng! Giá trị của con người là nhân cách, còn giá trị của mày là học để sao cho có nhân cách. Tao thề có chúa, khi nào mày tìm được đường đi của nhân cách thì nó bỗng dưng hết giá trị, giống như tiền ấy, người ta nói tiền nhiều ắt nhân cách nhiều, mày không xu dính túi thì tìm đâu ra cái thứ xa xỉ kia.
   Đăng nhà thơ quay sang anh:
   - Mày có hiểu gì về làm người không, giảng cho cái đầu đất sét ấy. Nhân cách không những thúc đẩy mạnh mẽ sức sáng tạo, truyền bá tri thức khoa học, nâng cao trí tuệ và lý trí con người, tăng cường năng lực chống lại sự dã man và ngu muội, hơn thế còn có thể thông qua việc du nhập khoa học vào xã hội, thúc đẩy quá trình văn minh hoá phương thức hành vi, thúc đẩy việc đạo đức hoá tư tưởng. Chả thế mà nhân cách vĩ đại của Bruno, của Newton, của Einstein… không những trở thành động lực, nguồn tinh thần không bao giờ cạn kiệt thúc đẩy khoa học phát triển, mà còn là thứ của cải quý giá của văn minh đạo đức loài người. Khổ thân thằng bạn tôi. Nó cứ luẩn quẩn với nỗi lo sợ rằng xã hội này sắp hết in tiền, nên nó phải nhanh chóng nhặt từng hào. Đảm bảo, trong túi nó có hai ngàn, hai tháng sau vẫn hai ngàn, không tiêu đi mà cũng chẳng móc đâu thêm. Nó cũng thèm có nhân cách lắm, vì theo nó nhân cách sẽ giúp nó hái ra tiền, và vì thế nó phải lận đận trên con đường tích luỹ tiền để được giầu nhân cách.
Anh la toáng lên:
   - Tao lạy chúng mày! Bớt thuyết lý đi cho tao nhờ. Theo tao, tất cả mọi sự phấn đấu là ổ bánh mì để mai lên lớp.
   - Nhưng nó gàn bỏ mẹ, không chữa cái gàn ấy, đảm bảo chỉ mai kia thôi, nó sẽ điên. Rồi chúng ta sẽ phải xấu hổ khi có một thằng bạn hàng ngày tóc vuốt ngược, áo măng xông, chân đeo giầy cốp oai vệ bước vào tất cả các công sở tỉnh, đập bàn và dạy người ta phải quản lý nhà nước thế nào cho đúng. Thằng Hân nói đoạn, ngửa mặt lên trời khóc hu hu một hồi rồi tiếp: Thế là tao đã truy điệu nó xong. Chỉ vậy thôi, tao không còn hơi sức đâu mà lo toan hơn thế.
    Anh rỉ tai Đăng:
   - Thú thật, tao cũng chẳng hiểu gì về cả thuyết sống của mày lẫn của thằng Hân. Chỉ biết chúng mày cãi nhau, tao học được ít nhiều. Nhân cách mày rắc rối quá. Nhân cách của bố tao không có chữ mà cũng chẳng có đồng nào, nhưng cả đời ông vẫn nói với tao là ông không hề hổ thẹn. Bữa tao thoát ly, ông tiễn ra tận rặng tre đầu xóm mà dặn: “Con nhớ sống sao cho ngày ăn được ngon, tối ngủ được yên”. Mới đây ông mất, mấy bà đẻ kiêng âm khí là thế mà bế cả con đỏ hỏn vào, cầm tay bố tao xoa vào má, vào thóp đứa trẻ rồi khấn ông ban cho nhân cách giống ông. Phát tang, cả huyện đến không thiếu một ai. Họ viếng một thợ đánh trâu cầy thuê có nhân cách!
   - Mường ơi! - Đăng vỗ vai anh: Tương đối thôi. Trong môi trường mới, gặp quan niệm mới luôn biết cảm nhiễm, hun đúc, tác động, dần dà hoà vào, dần dà lọc thải nhân cách cũ, để xây dựng nhân cách mới. Nhưng nhớ là nhân cách lý tưởng đấy nhé.
   - Ôi dào, triết lý đuôi. Tao chỉ biết tao và nó không cãi nhau. - Hân giảng giải: Tranh luận thôi, vì suốt ngày thấy nó mê mẩn trong cái mớ lý thuyết xa vời, khó nhai khó nuốt ấy, sợ nó vừa tẩu hoả nhập ma, lại bị chết đói nên muốn lôi nó trở về cái thế giới thực tại mà tao, mày và nó đang sống. Mày có tin không, thời buổi cứ thằng nào nhiều tiền thằng ấy sướng.Ở quê tao có hai vợ chồng tay xe ôm, nghề hít bụi đường rẻ khinh khôn siết, vậy mà nhờ chuyên chở nông sản bằng xe ôm, nó có tiền, rồi chuyển sang lập trang trại, buôn hàng chuyến, vốn lên tới hơn chục tỉ. Nó tự quyết định sướng khổ đời nó, đời vợ nó và tương lai con nó. Tao thà đổi hết chữ nghĩa của tao, cả nhân cách của bố mày nữa cho thằng Đăng để lấy đồng ra đồng vào, thoát cái kiếp cả tháng giữ khư khư hai ngàn cho nó có hơi tiền.
   - Đấy mày xem, tao đã bảo rồi, cái ngữ nó làm gì biết đến hai chữ xấu hổ. - Đăng lại chõ vào anh: Nhân cách không còn đơn giản để chỉ “mặt nạ” như nguyên nghĩa La tinh (Persona), mà nó được mở rộng ra rất nhiều tầng nghĩa và lý luận về nhân cách. Tóm lại, con người thiếu đi nhân cách thì việc xấu gì cũng có thể làm. Bên kia đường có thằng quản đốc phân xưởng, khốn khổ cho nó cứ tưởng chức tước đi mua của mình là to tướng, khi vừa về đã lập tức gầy nuôi một tuồng hót hớt vốn sẵn đê tiện, rẻ rúm và hạn chế mọi mặt. Sau đó là cuộc tìm vết nhằm trù hạ những người tốt không ưa chân lý nó. Tội nghiệp, nó đâu có biết nó đang làm cho những người bị nó trù hạ ấy có nhiều nhân cách lên.
   - Thì thế mới nói. - Hân khiêu khích: Mày cứ vục mặt vào đống sách mà thanh tao với cả cao khiết, trong khi nhân cách phải tắm nước lạnh giữa trời rét như cắt còn nó hợp thức hoá tiền Nhà nước xây phòng tắm nóng lạnh để cá nhân dùng, đi công tác bằng công lệnh mình ký, khai khống chi, thu... mà có sao đâu.
   - Đúng là nhân tứ bất (bất nhân, bất chính, bất minh, bất tài). - Đăng kích lại: Cả cuộc đời nó bất cập đến suy vi, nên phải tìm đám cấp thấp kết bè cùng nhau khổ hạnh để tiết nhựa, lấy chất cho nó nuôi tán, nuôi cành. Trên đời này còn những người có nhân cách thì cái quan điểm lôgic cấp bậc ấy phải cải tạo hoặc bị cải tạo.
   - Trào lưu dễ gì thay đổi. - Hân bảo vệ: Dù theo triết lý của mày sự lô gích ấy chỉ là cái chung hư ảo, nhưng nên nhớ nhân cách cũng chỉ có thể là cá thể, mà đã là cá thể thì khoảng trống ít được lấp đầy, trừ khi lại có một cuộc xã hội hoá nhân cách. Mày thử vác mớ chân lý quý báu của mày sang bên kia đường xem có đứa nào nghĩ lại, theo mày, học hỏi mày và gìn giữ nhân cách để xây dựng cái chung không. Sau này mày cứ việc nhồi đầy bụng chữ rồi chọn nơi nào quạnh hiu tĩnh mịch mà làm thơ, viết văn và sống có nhân cách. Còn tao phấn đấu trở thành một nhân vật có tài, có tiền. Nếu tao chết, sẽ trở thành luận điểm trong truyện ngắn, trong tiểu thuyết của mày, còn may mắn sống sau bao nỗ lực, mỗi lần bọn mình gặp lại nhau thằng có tiền, đứa có nhân cách vậy là hoàn thiện...
   
***

Mười năm sau cái ngày ăn đói, ở buồn trên căn gác trọ u ám, chật ních hơi người, anh mới gặp lại Đăng nhân dịp đi sang tỉnh bạn công tác. Theo hướng dẫn của một cán bộ khuyến nông, anh cho xe chạy một thôi dài trên con đường rải đá ngoằn ngoèo, vượt hết núi này lại lội sang khe kia, sâu cùng sâu kịt. Nơi Đăng ở không điện lưới, không sóng viễn thông, không chợ. Lác đác ven các triền rừng, một vài mái ngói đỏ ối in đậm trên nền xanh dài tít tận. Thi thoảng dội vào không trung tiếng nai tác, tiếng sói tru, tiếng lợn rừng đuổi nhau eng éc. Đăng xuất hiện với nước da rám nắng khoẻ khoắn và cơ lực, không như anh liên tưởng một mái tóc dài nghệ sĩ, mắt đóng kính trắng, mình bó những bộ quần áo toàn túi… Dắt anh leo lên căn nhà sàn năm gian, toàn bộ làm bằng gỗ nghiến, sơn toa màu cánh gián long lanh, Đăng hỏi:
   - Ông biết chuyện Hân chưa? Ông ấy đi rồi. Thương tâm lắm. Toàn thân là một cục máu. Hân chết cũng tại bọn tham lam vô độ, ăn thuế, ăn hàng chưa no, còn ăn luôn cả dây cẩu. Sau khi làm thơ, viết văn bằng cái bụng lép kẹp, và nhất là sau cái chết của Hân, tôi bỗng nhớ lại như in những gì tôi và ông ấy vẫn vạc nhau hồi còn trọ học. Bằng sự trải nghiệm thực tế, nhiều cái tôi thấy Hân nói đúng ông ạ. Bị phụ thuộc về kinh tế thì nhân cách còn gì nữa. Vậy là tôi bỏ chữ nghĩa ba năm, vay tiền lên đây lập trại nuôi lợn rừng, hươu, nai, cá sấu, dông, kỳ đà, ba ba… năm thu nhập vài tỉ. Có cuộc sống dư giả ta thoải mái phấn đấu cho lý tưởng làm người. Nói như thế không có nghĩa là không có đắng cay, nhưng là đắng cay gia vị chứ không phải đắng cay bản chất.
    Anh lặng lẽ móc lá thư đã vài năm nay luôn cất trong túi áo ngực, đưa cho Đăng:
   - Hân bảo ông có lý. Hân viết sau rất nhiều thời gian va đập với cuộc sống, ông ấy thấy làm con người mà mất hết lý tính thì sẽ trở thành nô dịch, ít nhất là nô dịch cho những tham vọng của chính mình, vì nó là tiền đề cho cuộc hành quân luồn luỵ đối tượng cầu cạnh. Cảm giác ấy khiến xương cũng thấy nhục. Mặc dù đang làm trưởng phòng nhưng Hân vẫn kiên định trước cám dỗ môi trường, chỉ để một ngày nào đó chính quả, thì về gặp tôi và ông!
    Hai người lặng đi giây lát, lòng khâm liệm hình bóng người bạn thân thuở nào. Dưới gầm sàn lát đá hoa cương, những công nhân bản địa đang hì hục quay lợn rừng tẩm lá mak-mật và ướp thịt dông tái. Một phụ nữ có vóc dáng thon dỏng, da trắng, mắt đen quý phái, anh đoán là vợ Đăng, bê từ trong buồng ra một bình rượu “dã trư âm kinh” ngâm ngọc hành và dương vật lợn độc, nói là để tăng lực cho anh, vì nhìn da hình như yếu thận. Nhấm nháp chén rượu đại bổ với lá thư Hân viết cho anh xong,  Đăng chậm rãi nói chát xít trong cuống họng:
   - Tôi cũng linh cảm thấy điều ấy. Cả trong lúc cãi nhau tôi vẫn nhận ra ông Hân có nhân cách lớn ông ạ. Ông ấy khích tôi mà gang họng nhau thôi, chứ tôi biết ông ấy còn trả tiền thừa cho con mẹ chuyên lừa bán bánh đúc than cho chúng ta. Cùng với đức thiện ấy ông Hân vốn tồn tại tính tự chủ, tính năng động và tính sáng tạo - đây chính là nguyên căn cấu thành nhân cách độc lập, một nhân cách quý mà xã hội đang cần...

***

Sáng thứ hai, anh phấn chấn trở lại cơ quan dù bị lực lượng chống tệ nạn xã hội lập biên bản, gửi đến chủ quản với tội danh mua dâm tại khách sạn Sơn Cầm. Anh giải thích với họ người đàn bà ấy là vợ anh. Vợ từ xa lên thăm chồng nhưng vì ở cơ quan, anh vẫn phải ngủ trên bàn nên không tiện yêu nhau. Bà chủ khách sạn không xác minh điều ấy. Anh không bị điệu đi, mà được ở lại đó cho đến khi chị về.
Vừa định đặt người xuống chiếc ghế trưởng phòng thì một giọng nói cất ra từ WC:
   - Ghế đó có người rồi, anh về chờ quyết định cấp trên gửi xuống nay mai.
   - Sao lại thế? Anh ngạc nhiên hỏi lại.
    Vẫn cái giọng ỡm ờ xiên qua vách toa-lét:
   - Kết luận của các cơ quan hữu quan về việc anh mua dâm ở khách sạn Sơn Cầm nằm trên bàn kìa. Cả hình anh, bài bình luận về hành vi anh, cách anh biện hộ, cản trở, thiếu thành khẩn... có lẽ đã về tận quê anh rồi cũng nên.
   Anh cười ngạo nghễ. Ra thế đấy, vợ lên thăm chồng không mang theo đăng ký kết hôn. Cả cơ quan anh, những người quen anh ai chả biết chị. Thế mà… Anh ung dung kéo một cái ghế khác. Một người khác, trước đây là đàn em anh, được anh yêu quý kèm cặp đến bên anh lễ phép:
   - Em nhờ anh cái ghế ạ. Hôm nay cơ quan có lãnh đạo ngành xuống thăm.
    Anh đứng lên nhìn quanh quất. Phòng anh chật kín người. Toàn người thân cũ. Có tiếng xe xịch trước cổng. Cán bộ tổ chức ngành bước vào công bố quyết định cách chức trưởng phòng của anh, điều anh ra tạm làm bảo vệ chờ cấp trên bố trí việc mới. Anh hỏi, họ trả lời không biết thực hư, chỉ xử lý theo biên bản vi phạm do cơ quan phòng chống tệ nạn xã hội gửi đến. Trên chiếc ghế trưởng phòng mới, giọng cười giễu cợt văng ra, chí ít là anh nghe được nó từ trong tâm thức.

***
   
Đêm xuống tự bao giờ. Vầng trăng mùa thu phả một màu vàng tươi mát lên những tiếng guốc gõ mau trên ngõ phố. Bất chợt anh nghe tiếng đàn lợn rừng đuổi cắn nhau eng éc xa xa...

2.9.2008

CÕI CÙN ĐỜI


Ma Trẩy hô một câu dừng lại bằng tiếng Mông, con đường mòn ngoắt ngoéo khiến âm thanh đuổi theo đoàn ngựa thồ vập vào vách núi nghe meo méo: Chạn! Con đầu đàn có tên như tiếng cảnh báo: “Cơn Điên”, lập tức quay người, chặt ngang con đường mòn độc đạo vào Chin Mang. Để vượt dốc Lòi Dom vừa tức, vừa dài đi bộ rát bỏng hậu môn vẫn chưa hết, thì phải nghỉ lấy sức. Người đã đành nằm vật ra, ngựa thồ trăm thứ bà giằn, thường dùng nạng gỗ đỡ hai bên yên, chùng chân mà chờ ông chủ véo cho vài bi, hòa vào chiếc túi nilon nước rãnh. Một con lực sức đã tạnh, lăn đùng xuống đất, hất món hàng độc là hai cái bánh đà máy hút và một ả cave ra khỏi tấm lưng ngày một rộp rộng hơn, kể từ khi về với ông chủ mới. Khốn nạn cho sự khôn ngoan quá mức. Ngay lập tức, một nhát kiếm không đứt phăng cái đầu cứng cổ, nhưng đủ cắt cuống họng ra làm hai đoạn. Huyết vung ra gặp hơi thở gấp, vã lên trời rồi trút cơn mưa máu xuống những tràng cười ha hả. Như một sự chuẩn bị hoàn hảo, Ma Trẩy bịt miệng túi nilon vừa cho ngựa uống thuốc phiện vào vết thương, đợi con ngựa run lên bận bật, máu đông thẳng xuống đáy túi mới gói lại, quẳng cho ả cave:
   - Giữ cẩn thận, vào đổi mấy phân vàng.
Ả cave, hai chiếc bánh đà và toàn bộ thịt, xương, lòng, bì con xấu số được chất đều lên lũ ngựa còn lại. Hàng nặng, đường dài ra, nhưng được nạp đô-ping, cả người và vật phăm phăm bước. Chưa tối đã về đến nơi tập kết. Trong gian lán toát ra một sự phòng thủ cao, bởi được thiết kế nằm gọn trong lòng núi của bưởng Nung “xù”, con ranh môi má rộp rạp chạy ra hạch hỏi:
   - Có “thịt” không?
   - Mày mù hay sao mà không nhìn thấy?
Lấp láp trong đống hàng trên yên ngựa, món “thịt” sống được gọi ẩn nghĩa đang phủi lớp bụi phủ dày, nom như chiếc bao tải. Con ranh lại hất hàm:
   - Còn “mì”?
   - Có đây, tiên sư mày! Đợi bố đi ỉa xong, sang lấy mà hít.
   - Nhưng mà đại ca cần ngay.
   - Lại mượn bóng mát đại ca…
Ma Trẩy túm gáy con ranh, kéo lại gần, gí cái bộ hôn xồm xoàm như mõm chó vào môi nó. Con ranh như bị một cú đấm thẳng, mắt tóe lửa, bỏ chạy.

***

Dân làng vàng đã vượt năm lần dân số xã sở tại.  Những chiếc chòi được dựng tựa vào vách đá hay khoét chìm trong lòng núi, vừa tránh gió đánh, tránh lũ quyét, nhưng phải có lối thoát, phòng cướp và công an bất ngờ tập kích... không còn được để ý bởi đã quá tải. Tràn ngập từ lòng khe đến chỏm núi, lán trại mọc như nấm rừng. Chin Mang giữa hạ mà gió rừng như gió bấc, cắt thon thót vào da thịt. Dân thổ công biết phải neo chòi vào lòng đất, vào gốc cây, và biết dự phòng cả những chiếc bao gai buộc sẵn tảng đá, đêm chui vào đỡ muỗi, đỡ lạnh, lại chống bay khi ngủ. Đám mới về, thậm chí ngay cả việc đại tiện, vừa xả xong, người chưa về thì vật đã trôi tới gầm bàn ăn. Ban ngày, cả tám bãi rung chuyển bởi tiếng mìn, máy hút, núi lở, cây đổ, tiếng cuốc vào ruột đất, kèm những vở chửi rủa tằn tĩu, đến nỗi tối về không thằng nào dám ăn thịt mỡ. Đồi cao dần dần thấp xuống, thung lũng từ từ đầy lên do đất đá, màu sít trôi bồi. Những nơi chưa xả tới thì tan hoang, bầm dập. Cây tươi cũng tranh nhau chặt làm củi, vì hết hùng hục thì chỉ có lửa mới xua đi cái rét tắc máu của vùng cao nguyên ít người biết đến. Đêm mà thức là ngột ngạt bởi ngũ vị mùi xông lên từ địa đạo, từ xác thực vật, mùi người, khói máy, thuốc mìn, mùi phân bắc đang ngày một ngồn ngộn trên các triền rừng; bị sương mù nén xuống, đặc quánh cả tầng khí thấp.
Trên vách lán Nung “xù”, ngọn đèn mỡ bị gió lè dài ra, liếm vào cục nhựa anh túc vê trên đầu que tiêm, toả hương đặc trưng của lán “lãnh chúa”, vừa xua muỗi, xua mùi sú uế ói lợm; vừa nhắn nhủ dân ăn hơi ở đây có hàng! Thiêu đốt điều gì mà đêm nghiêng về sáng, Nung “xù” không ngủ. Nhoài người kéo tấm chăn cáu ghét mồ hôi người, mồ hôi thuốc và cả chất thải của những cuộc ăn uống da thịt, dồn đống dưới cuối sạp, che cho hai con nhộng người đang tênh hênh nuôi đàn muỗi đói. Mặc, chúng cứ ngáy sau cơn thoả thê đàn ông, thuốc phiện và khoản tiền tích góp cho cuộc tính toán dài lâu làm lại cuộc đời. Trong bóng rừng đêm, một thằng đàn em chạy ra khúm núm:
   - Đại ca nhỡ giấc ạ!
   - Đứa nào vào huyệt thằng Sảo “bò”?
   - Dạ, thằng Phùng “khỉ” nằm trên ngọn cây ngót tháng nay không nghe được tin gì. Hay đại cai cứ cho kế sách để ta thăn nó?
Sảo “bò” là bưởng mới, đông đàn em, nhiều tiền và bặm trợn. Theo Chức “tha ma” thì hắn đến từ miền Trung, có tên đầy đủ là Bùi Đức Sảo. Cùng với em trai, vốn là trẻ không nơi nương tựa, từ nhỏ Sảo đã có thành tích vang dội cõi lang thang về năng lực làm ma cờ bạc, trộm cắp, cướp giật. Mười bốn tuổi đã chui vào chuồng bò, mổ trộm, tuồn thịt qua gióng ra ngoài đem bán, vì thế mới có tên mũ hai là Sảo “bò”. Sảo “bò” từng hành nghề dạy võ rong với cái danh “Sư phụ nhất Nam - Trung”. Có vóc người thấp đậm, cơ bắp, nhưng nhanh nhẹn, cộng thêm vốn kiến thức cả chục dòng võ học, nên lên lớp nhuyễn như cháo chảy, không ít người ngả mũ. Đôi mắt bé và lé, mỗi khi áng đòn tả, địch thủ nhầm Sảo nhằm đòn hữu. Hầu hết khi lĩnh ngập hai ngón tay vào hai tròng mắt, hoặc thủng yết hầu rồi mới kịp hiểu ra chuyện gì. Tích góp tiền dạy võ, tiền cưỡng đoạt khi dạy võ, tiền đâm chém đòi nợ  thuê; thậm chí buôn heroin và tổ chức cướp trên đèo Pha Đin. Cuối cùng, chuồn vào Chin Mang vừa xoá vết, vừa hòng nhân số tiền ấy lên, rồi về quê lập một công ty cho sạch bụi bặm.

***

Nguyễn Ninh Nung là độc đinh một gia đình khai hoang nghèo bấn. Buông đít trâu, kịp tốt nghiệp đại học chuyên ngành hiếm có ở tỉnh, nhưng không có một trăm triệu như một quan chức làm giá nên đành ở nhà lấy vợ, nằng nặc đòi ra riêng với của hồi môn là mảnh nương vài trăm gốc sắn, hai gian nhà tranh làm càng xa nhà bố mẹ càng tốt. Hạnh phúc nghèo lành chưa hưởng bao lâu thì vợ Nung mất tích. Có người đi chợ biên giới nói tận mắt thấy bị bán sang Tàu làm đĩ. Chả bước ngoặt nào nhanh bằng, mà thường là bước từ cao xuống thấp. Cái tri thức thất nghiệp dần dà khuất phục trước bản chất bòn nhặt tiểu thủ gia truyền. Người ta thường nói, sự trong sáng ấu trĩ bị hằn vết nào đầu tiên là vết nấy hiện hữu cả đời. Sự bo xó, nhỏ nhen và bảo thủ khiến Nung không vượt nổi nỗi đau lớn. Hắn bắt đầu xù cả những khoản nợ gái gú, cờ bạc, rượu chè rồi thuốc phiện. Cái ngu bạc ăn mòn trí tuệ, đến nhân cách và cuối cùng đe doạ mạng sống. Đồng tiền trước trói sự nghiệp, giờ như chiếc tròng thắt vào cổ mỗi khi thiếu thuốc. Hắn đến Chin Mang chỉ mong thể hiện cái tài quản lý nhân sự, cùng lắm là chân hoạch định tài chính nào đó, miễn đủ ngày hai bữa ăn, một bữa hút. Thật may, sống giữa đám cơ bắp to hơn trí não, chỉ vài đường loằng ngoằng sổ sách, ông bố nuôi phải nhảy núi mà chết vì xót bạc và vì hận tin nhầm con quỷ. Thằng con “ong tay áo” vẫn còn chút con người. Hắn mua cả tạ chè móc câu, ướp ông bố ân nhân vào cỗ quan tài gỗ quý, gửi về quê cho bà mẹ chưa biết mặt, chưa biết tên, nhưng biết tiền của bà. Của nả yểm được giúp hắn trở thành ông chủ của một đoàn vận tải gia súc, càng ngày càng bành trướng. Chẳng cần mua bán. Ở cái tổ quỷ này, ngoài những con ngựa nghiện ra không gì mang hàng vào nổi. Giá cước vận chuyển, dù bằng hình thức thanh toán nào vẫn kiếm cho hắn bạc triệu mỗi chuyến. Một tháng mười lăm chuyến, gần hai chục cỗ động cơ sinh học giúp hắn mặc sức chặt chém thiên hạ của hắn trong sự hàm ơn. Tuy nhiên cơ hội làm tiền ấy chỉ là của riêng Nung “xù” và Ma Trẩy. Một là chúa của tân toan, mưu lược và gian giảo. Một là thần thổ công thông thạo địa hình, cao cường võ nghệ; xứng là chắt của một tướng lĩnh người Tàu, thất sủng thời Thái bình thiên quốc chạy dạt sang. Hai cái nhất hợp lại thành cái nhất thứ ba, là… nhất quyết không tha bất kỳ kẻ nào có ý định đưa cái nhìn xin ăn vào bát cơm của chúng. Cặp thương súc Nung - Trẩy tồn tại như một huyền thoại, một nỗi kinh hoàng của cả những băng cướp lợi dụng vào địa hình hiểm trở của con đường núi treo vào mây bay, ẩn khuất hàng trăm cái bẫy. Vài bữa lại có một người thập phương đến Chin Mang tìm nhân thân. Nhìn con đường gập ghềnh đá lẫn mất vào mây, là phải đến van lơn, cầu cạnh Nung, Trẩy làm ơn. Khốn nỗi ở đây chỉ có tiền là thông cảm nhất và ơn huệ nhất. Cứ chi thật nhiều, sẽ có thật nhiều tiếng nói chung. Mà kiếm người giữa chục ngàn người sống, từ nông dân chê ruộng rẻ, đến tù tội vượt trại, con nghiện, dân buôn bán cả hàng hoá lẫn da thịt… đã khó, rủi phải tìm người ở cõi âm thì chỉ nước trắng tay mà về. Chin Mang có bảy nghĩa địa, chi chít những nấm, những đụm. Mỗi năm có tới 14 - 15 vụ tử nạn được vùi vội vùi vàng, không tên tuổi, không quê quán do sập hầm, chết mìn, ngạt khói máy, chích quá liều, ết, đánh nhau… . Ấy còn chưa kể đến số mất tích, mất xác do thú đào mả lôi đi và do có sự ra tay ém nhẹm vào khe hốc nào đó, đến khi diều quạ tha xương mới biết lại có thêm một nấm mồ hoang. Vì tiền, Nung có thể kinh doanh tất cả những gì hiện hữu trên đời, kể cả hắn. Một quả tự đấm vào mặt nếu kẻ nào trả công(?)
Không còn đơn thuần là đoàn vận tải sìke. Giờ Nung đã là bưởng với ngót trăm cu ly, mà thực chất toàn là các bộ hạ thân tín. Cũng như những bưởng khác, quản lý đàn em bằng tiền, thuốc phiện và gái điếm; cai trị lao phu bằng cấm vận, bằng những quả đấm thép được bảo trợ nhờ một loại pháp trị, đó là luật rừng. Bất kỳ kẻ nào muốn ốm và ăn nhiều hơn làm, hoặc bỏ trốn, hoặc ăn cắp; đặc biệt là gián điệp thâm nhập từ ngoài vào hay có ý tưởng buôn bán từ trong ra những mánh lới hay hướng đi của hầm vàng... kẻ đó lập tức hưởng trọn nhát cuốc vào gáy. Những thằng đồ tể chuyên thi hành án, ít được thưởng vài ngày thuốc, nhiều là vàng, là một đêm làm bưởng giả, mơ giấc mơ chung với “vợ” của bưởng thật(!) Vì thế mà như một guồng máy cơ học, dân vàng ăn bóng bưởng thì phải nhân năm cộng bảy chút sức lực vay mượn lên để tận tâm hầu hạ, bòn nhặt cho chủ; và học cách tự nhận ra lúc nào cần giam mình dưới lòng địa đạo sâu hàng trăm mét, ăn ngang ngót hai trăm mét, rồi có hay không tạo ra một cuộc sập hầm hợp lý. Tất nhiên đàn em chính là cuộc sống của bưởng. Nung “xù” hơn đời ở chỗ biết dụng đàn em như dụng võ. Thằng Đương ăn nhờ khí thải hắn hàng năm, nhiều lần đàn em muốn thanh toán nhưng Nung quả quyết Đương không phải dòng ăn hại. Cuối cùng, từ một thông tin của hắn, Nung mua thành công hầm vàng đang thì nở rộ nhất bãi của bưởng Phàn, khi tên này vỡ nợ với lãi xuất kỷ lục là một ăn đôi, từ ngân hàng Sảo “bò”. Sau khi nhọc công sang Tàu thuê thầy địa lý xem mạch, Sảo vốn lập trình sẵn con đường phá sản này cho Phàn và ngồi chờ. Nhưng rồi Nung “xù” mới là kẻ chỉ mất hai tiếng đã chạm tới vỉa hàng tạ vàng ăn từ trên xuống. Đêm đó, Nung tự thưởng cho mình và thằng Đương một chầu bạc thua hết hơn ký, rồi vui vẻ vùi đời vào bẹn bọn cave vừa đầu tư cho đi chữa lậu về, ngon phởn mắt.
Từ bữa đó, Nung “xù” đi tới đâu cũng kè kè hàng tá cận vệ, mà tự thân mỗi thằng rặn ra một kiểu hằm hè, hăm dọa. Hôm xưa, nghe bọn đàn em về báo, thằng Sảo “bò” không chịu an phận mà còn thọc lưỡi vào các cửa làm tiền của Nung; nhất là mánh bảo kê, trước giờ độc hắn có quyền coi sóc và thu lượm tất cả những cái có thể hình thành nên một xã hội thu nhỏ của những kẻ bất cần đời. Cái họa này ắt tại thằng Đương không hoàn thành nhiệm vụ. Một cuộc thanh trừng diễn ra giữa rừng xanh. Thằng Đương máu me bê bết cố né những nhát xẻng phóng trượt người, găm vào đá xanh lét lửa. Thằng này chắc chết nếu lúc đó không có một đàn em Sảo “bò” bịt mặt phi thân ra, quắp vào nách tha đi không ai theo kịp.
   
***

Vẫn như mọi khi, mặt trời ngả về tây là lúc từng dòng sương thong dong chảy hút lên trời xanh, để lộ dãy Pu Si Lung đen thẫm. Cả chục ngàn người tìm vàng bỗng dưng náo loạn. Tiếng khóc, tiếng cười, tiếng chửi trời, chửi đời tru tréo:
   - Hầm thằng Sảo chỉ vài xẻng mà vào ba bốn chỉ. Ông trời ỉa vào xoong rồi...
    Hang Nung “xù” cũng sôi lên như ong chia tổ. Chức “tha ma” hoa tay:
   - Chấp thằng Sảo mười bao chọi một. Thằng này vươn qua hai cây, thằng kia mất hầm.
Sảo “bò” là kẻ không dễ bị kích động. Đương hàng binh lập tức được điệu vào xới. Thằng này quỳ mọp dưới chân ơn cứu mạng, tuyệt không dám láo nửa lời.
   - Một bao đất ra hai cây là chắc. Em ở em biết. Chỉ có điều sao nay thằng Nung không giấu như mèo giấu cứt nữa.
Vài hôm sau, cái sự lạ đến thật. Nung “xù” rao bán hầm. Tin này được Đương xác nhận. Từ cái dạo gián tiếp giết chết bố nuôi, Nung bị quả báo nên không ăn ngủ được. Việc làm tiền cũng theo thế thủng nhiều. Nung nợ ngót trăm cây, cộng cả tiền mua con Bích Trân và tiền bồi thường lỡ tay làm chết thằng cận vệ của bưởng Hạm. Riêng chỗ Sơn “thuồng luồng” hơn hai trăm cây tiền chạy điều tra vụ sáu bánh, bị bắt quả tang năm ngoái; nhưng thực tế là Nung bị bẫy chạy án sáu bánh bột sắn. Hiện cả hai thằng ra điều kiện, nội tuần trăng Nung không trả tiền thì phải trả mạng. Như chỉ đợi có thế, Sảo gọi bưởng Chiếng vật vã bấy nay đi tìm hầm mới sang làm giá bán hầm bảy mươi cây; rồi bù hai trăm ba mươi cây nữa chồng cho Nung “xù”. Ngay lập tức, Nung sang lấy lại hầm của Chiếng với giá chẵn trăm cây. Nội buổi chiều hôm đó, cả hai thằng ngã ngửa ra vì những cú lừa ngoạn mục, giống hệt nhau bởi cùng học một gã thầy mù chuyên nghĩ mẹo vặt, bán lấy tiền, sống ở bên kia núi. Đó là đổ vàng xuống đất rồi đãi để ra giá bán theo giá trị thu hoạch. Nhưng Sảo là thằng chết điếng với hai trăm ba mươi cây rơi ra khỏi túi, còn Nung trừ trăm cây mua hầm thằng Chiếng vẫn lãi dài. Trong cơn nấu máu, Sảo sùng sục dẫn quân sang bãi bảy. Như có hẹn, trước mắt Sảo là một rừng gậy gộc, cuốc xẻng và lời buộc tội tím bầm của Nung “xù”:
   - Nó lừa đảo rồi còn muốn giết người đấy, xông lên anh em!
Là kẻ sống bằng đánh đấm, Sảo thét lên rồi lao về phía Nung “xù” như đi vào chỗ không người. Thoáng cái đã có tới chục tên nằm vật lộn dưới đất. Khi còn chưa tới được chỗ Nung thì Sảo đã bị một cú đánh lén nhanh như sét vào gáy. Trước khi ngất, hắn kịp nhìn ra bộ mặt đểu cáng và cực kỳ hèn hạ của thằng Đương gián điệp, đang toe toét lập công. Ngay lúc đó, cả những kẻ đã bị Nung đuổi đi, những kẻ vốn là tôi đòi của Sảo cũng chọn kế phù thịnh, lần lượt đến sắp hàng sau lưng Nung “xù”. Luật rừng là thế, đã thua là thua trên mọi mặt trận. Chỉ một bộ quần áo che người, Sảo “bò” dìu em trai đi, máu vẫn đang ròng từ hai tròng mắt xuống ướt đẫm ngực áo em hắn.

***

Đã hàng năm, sự tán tụng của bọn vận tải ngựa về những vụ thắng lớn trong Chin Mang không lòe thêm được ai nữa. Cơn sốt vàng trước đây khiến người ta ùn ùn kéo đến thì bây giờ đã đến lúc ùn ùn kéo nhau đi vì sự kiệt quệ của cả thiên nhiên lẫn con người. Lác đác trên các bãi, dăm bảy hầm còn phập phù đào bới, hầu hết là của đám người đã bị vàng làm cho tâm thần dở. Họ điên cuồng như để đòi nợ tất cả những gì mà Chin Mang gây ra cho họ. Nung “xù” cũng không ngoài số đó. Vẫn là ông chủ nhưng là chủ một động đĩ và thuốc phiện, lén lút kiếm ăn trong Hang Vắt, cheo veo lưng chừng vách núi Ấm.
Vào buổi sáng mù sương, một người đàn ông phong trần từ Bình La vào, trình diện trước ban quản lý bãi vàng đã được một công ty Nhà nước độc quyền quản lý và khai thác. Thì ra anh ta là chủ vàng đang trúng lớn trên bãi Nậm Cô,  đến Chin Mang tìm người nhà. Không cần ai chỉ, anh ta rảo bước về hướng thung lũng chín bộ xương hoang, nơi có Hang Vắt mà bọn Nung đang ẩn náu. Tên lính gác hang thấy có bóng người ngày một rõ trong lớp sương mù, la toáng lên:
   - Công an!
Một thằng có vẻ tinh mắt hơn, khoan lại:
   - Không phải công an, hình như là Sảo “bò”.
   - Hỏi xem có phải nó đến nộp vàng, xin ta cho được quay lại Chin Mang?
    Nung “xù” vừa dứt lời thì Sảo đã lọt vào trong hang, bỏ lại mấy thằng lính canh đang chơi vơi ngoài bờ vực.
   - Tao đến không phải nộp mà là đòi vàng và đòi mày trả cho em tao đôi mắt.
   - Đại ca ơi, cái thằng bò ngựa này chưa được chết cách đây ba năm, giờ nó đến xin cho chết lại đấy.
   - Bịch, bịch, hự…
Câu trả lời của Sảo làm lũ đàn em Nung “xù” nằm cả xuống nền hang. Vẫn như ba năm trước. Nung chưa kịp mở lời thì quả đấm của Sảo đã chèn vào họng. Mạng Nung, tiện lúc nào Sảo lấy lúc đó, mục đích quay về là vì hai trăm ba mươi cây vàng. Nhưng giờ Nung đã khánh kiệt. Một giấy quy ước theo luật giang hồ được hai bên ký kết. Đúng giờ, bãi tha ma bảy đón đầy đủ, bên này là mười một cư dân Hang Vắt, bên kia Sảo “bò” vẫn hiên ngang lạ lùng khi dấn bước một mình vào cuộc thách đấu. Tờ cam kết đã ghi rõ mọi sự tự nguyện, không nhờ pháp luật can thiệp. Đợi cho Nung “xù” nạp no thuốc, gân cốt trở lại như xưa hai tên bắt đầu lao vào nhau. Không lấy gì làm miếng mẹo nhưng do vóc dáng lực lưỡng, cộng thêm sự dư thừa lao động, quả tình những ưng chảo, hổ chảo của Thiếu lâm phái mà Sảo choảng vào Nung như vào bị thóc. Hơn một tiếng đồng hồ, hai vị anh hùng thảo khấu như hai con gà chọi đấu quá hồ, tựa cần vào nhau thở hồng hộc. Đây là thời khắc của những tên có võ, bằng chút sức tàn, Sảo gài chân chó, túm ngực Nung, giải đòn khèo để Nung hơi ngửa người ra sau hóa giải; bất ngờ hắn dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể nện gót xuống mu chân Nung “xù”, rồi theo đà đẩy Nung ngửa ra sau. Vốn sẵn cơn thở dốc, lại bị trật cổ chân do miếng đánh hiểm, Nung nằm liệt luôn không dậy nữa.
Đúng theo cam kết thì Sảo phải lấy mạng Nung, nhưng cái mà chỉ những võ sĩ đạo mới có ở con người Sảo đã giúp Nung đổi đôi tay lấy sự sống. Một khúc gỗ to được vần đến, lúc này hàng trăm tên đàn em Sảo như từ dưới mả chui lên, công kênh trên vai tên Sàng, em trai Sảo, mà cách ba năm đã bị Nung chọc mù hai mắt. Trước giờ xử, bọn đàn em và gái điếm nhanh chóng bỏ lại tên thủ lĩnh cạn vận, duy chỉ có Bích Trân lăn lộn van xin Sảo ân huệ cho Nung một liều thuốc phiện để giảm đau. Hai chiếc đòn được bốn thằng đàn em to khỏe đè chặt hai cánh tay Nung xuống khúc gỗ. Bằng con dao tông cùn, Sàng “mù” như con thú khát máu, vung lên chém liên hồi trong sự gào thét cứ đuối dần cho đến khi tắt phụt của Nung “xù”; mà hai cánh tay nát bấy vẫn chưa chịu lìa ra...

***

Ba gian nhà lim ông đội Xá để chờ thằng con độc, cuối cùng nó đã trở về trong dọc ngang chiến tích. Vốn liếng ngót hai chục năm sống bằng ảo giác, hắn ấn cả vào tay ả cave cứng đầu, chết cũng chỉ bán thân cho một mình hắn, kèm lời khuyên duy nhất trong đời, tỏ đúng là con người:
   - Nghe nói trong thành phố Hồ Chí Minh có dịch vụ thay máu. Em còn trẻ, cai xong đừng về đây nữa.
Bích Trân ra đi để lại cho Nung can rượu chống dòi bò mỗi khi vật thuốc và vết thương tái phát. Ngôi nhà gỗ lim, ngoài sự lạnh mốc ra vẫn còn nguyên vẹn. Cả bộ đồ thờ mà dịp ông đội Xá lĩu kĩu bán trâu đưa con về Hà Nội thi đại học, mua và coi như điểm nhấn cho sự thay đổi các thế hệ tương lai... cũng còn đó, kèm một tuần nhang chưa thắp. Mảnh vườn rộng thênh thang vốn là của nông trường giải thể, cấp cho người có công, trong thời gian chờ được trông nom, cội cành xơ xác. Nung “xù” đã không thể lê nổi đến bên can rượu, mà giả có, chắc cũng không nốc thay cơm như mươi bữa nay được nữa. Thuốc là một nửa sự sống, đã bị mất thì ắt một nửa cái thân tàn, khó mà đấu tranh.
Trong cơn thoi thóp, Nung nghe lào phào tiếng bố mẹ gọi như thể đã đi quá xa, không còn theo kịp. Và nghe thấy cả tiếng thằng Sảo nói vọng qua song sắt về cái việc Nung không kiện nhưng nó vẫn tự thú, để được vào trại học cách làm người. Cái thằng đến lạ, nửa đời người là kẻ thù không đội trời chung, sao giờ nhớ nó ghê ghớm. Kiếp phận này có lẽ ngoài nó ra chẳng ai hiểu cái thú và cái giá của những thằng cùn đời như mình. Một kiếp buồn thật đấy nhưng cũng không lấy gì làm hèn thẹn. Bất chợt Nung “xù” nghĩ đến Bích Trân, giá cô ấy đi thay máu mới, rồi bay đến một phương trời lạ, với năm mươi cây vàng còn lại Nung đưa, đủ sống thoải mái nốt phần cuối đời với một thằng đàn ông ăn hại nào đó, nhưng hiền lành và coi cô ấy đúng nghĩa là vợ. Nhưng sao lại ôm năm chục cây vàng quay vào Chin Mang, chỗ lão phù thủy mù sống sau núi Ấm?
Không ngăn nổi hai hàng lệ kéo dài xuống cổ, Nung nhâm nhi cảm giác hai cẳng tay cụt gắp bảy cái vía như bảy cục đá sít của mình, ném vào cõi hoang vu. Chực để cho hai mắt từ từ đóng lại thì nghe vang lên cái giọng quen thuộc mà trước đây Nung chưa bao giờ coi là vợ.
   - Em cai rồi.
   - Sao không đi thật xa?
   - Đã đĩ điếm què cụt cùng anh, giờ có làm ma cũng làm ma cùng anh. Đây là cây thuốc ngủ, đây là cây thuốc đói, đây là cây thuốc tăng cường trí lực; còn chỗ này để tắm chống viêm nhiễm, chống buồn xương. Tất cả là của ông phù thủy đấy, em biết ông chữa nghiện từ khi còn trong Hang Vắt, nhưng chưa khuyên được anh từ giã cõi cùn đời…


Chin Sáng 18.7.2006

2 tháng 2, 2013

SƠN NỮ



       Sơn nữ dán vào chiều một quầng trắng nõn. Chiếc quai xạ khắc lên đôi vai tròn lẳn một vệt son roi rói. Tóc xõa. Váy giắt lên trên hai gốc vú trắng ngần, kéo chiếc gấu ngắn lại đến non đùi, ngần ngận trắng. Tất cả vừa nhúng nước. Những hạt nước đọng li ti trên đôi má hồng tơ. Đọng cả trên đôi mi bồ câu rừng, đen lay láy. Sơn nữ nở một nụ cười, cả vạt rừng sáng bừng lên sau lưng hoàng hôn. Lữ khách chết sững như bị thiên lôi trồng. Mọi linh hoạt dần ngưng động.

CÕI CÙN ĐỜI

M

a Trẩy hô một câu dừng lại bằng tiếng Mông, con đường mòn ngoắt ngoéo khiến âm thanh đuổi theo đoàn ngựa thồ vập vào vách núi nghe meo méo: Chạn! Con đầu đàn có tên như tiếng cảnh báo: “Cơn Điên”, lập tức quay người, chặt ngang con đường mòn độc đạo vào Chin Mang.

DÃ NHÂN

1.

Đống rác được kết bởi hàng trăm thứ vật liệu: Bao tải, giẻ rách, nilon, giấy dầu, rơm, cỏ... bết bát bùn đất, nằm ép vào vách đá, ngay bên bờ con suối La như bị ốm sau một cơn giông chằng chịt lửa điện. Nước từ thượng nguồn tím bầm màu máu chó, sôi sùng sục, phóng những bước nước rút của một con báo, từ trên thác Cao Pha xuống, như chỉ chực liếm cái tổ ấy vào trong ruột lũ.

1 tháng 2, 2013

SÓNG ĐẤT

S

óng đánh sầm sập vào đêm.
Con thuyền độc mộc oằn mình lên theo từng ngọn nước. Mây đen úp kín dòng sông. Gió thốc khan dữ dội. Đà giang tháng 4 nghịch nết như một đứa trẻ cá biệt. Vừa vạng tối, trời vẫn xanh ngắt màu da bòng, vậy mà mươi phút sau, mây đen thộc về, đảo lộn lòng sông lên như người ta đảo rơm. Nước ròng và trong như mới cất bỗng bị khùa lên đỏ ối. Những thợ câu cá nheo lành nghề như Tao luôn biết trước sự xuất hiện của con thiên quái ấy. Ngay từ chiều, những đụn ráng vàng đùn kín phía tây trời là các tay câu đêm rủ nhau trốn vào một ngôi nhà dựa núi uống rượu, tán phiến và tưởng tượng ra ngàn cái khoái.

NGÔI NHÀ THÁC LOẠN

M

ọi người gọi y là thằng thần kinh. Thằng chập mạch. Thằng quỷ người… Duy gã Khươn điên, vào lúc mười lăm phút tỉnh trong ngày gọi y là người gánh tội cho xã hội. Cái gã dành cả một đời phấn đấu cho mỗi việc lang thang, nhặt nhạnh những thứ bẩn thỉu người ta vứt đi rồi dồi cho đầy cái dạ dày, luôn có cách nhìn đời quai quái.

ÂM LỊCH


“...L
à đại diện duy nhất của tòa soạn mang hơi hướng văn học, khi dựng nó ai cũng lo; giờ thì tuyệt vời. Nó làm cho những thông tư, nghị quyết mềm mại hơn, đi vào cuộc sống sâu hơn, rộng hơn. Tựu trung nó là thành công mĩ mãn nhất trong lịch sử tuyên truyền của tỉnh, kể cả số lượng phát hành lẫn doanh thu.

EM CẢM ƠN, VÌ CHỊ LÀ… MẸ!

25 tuổi tôi cưới vợ. Ngày cưới của tôi là một ngày hoàng đạo. Các cụ bảo, lấy vợ xem tuổi đàn bà. Tuổi vợ tôi năm nay đại lợi. Mẹ nuôi tôi tất tả ngược xuôi lo cho tôi từ cái cà vạt, đôi giày phấn trắng… Mẹ 46 mà trông như mới ngoài 30. Có lẽ vì mẹ vui, bởi ước mơ cháy bỏng trong đời mẹ là được lo lắng một chuyện gì đó lớn lao… Tôi đứng ngắm mẹ, thấy mình thật may mắn.

RÉT NGỌT

Bấc về.
Sương mù như băng lấy mắt. Người đàn bà lần đất đi cho kịp phiên chợ sáng. Gánh rau cải chồi đã úa vàng vì thiếu nước và vì sương muối. Chẳng ai bu quanh như cảnh chợ xưa.

NGƯỜI GÁNH THƯ TRÊN ĐỈNH LĂNG QUAI

D

ãy núi Vách Thưng Trời vẫn đứng sừng sững như một lời thách thức những bàn chân gang đồng, từ thời Ải Lậc Cậc (truyền thuyết dân gian “Ải Lậc Cậc - tức Bố Khổng Lồ, hay còn ám chỉ là Thần Nông - của người Thái cổ) lấy chân san phẳng núi rừng để tìm viên đá lửa. Vết gạt thành sông Nậm Rốm, còn đất đá té đi một quãng đường đất bằng độ ngón tay của Ải, vãi xuống thành dãy núi Vách Thưng Trời, thành cả muôn núi ngàn đồi Tây Bắc nữa.

DÃ NHÂN

1.

Đống rác được kết bởi hàng trăm thứ vật liệu: Bao tải, giẻ rách, nilon, giấy dầu, rơm, cỏ... bết bát bùn đất, nằm ép vào vách đá, ngay bên bờ con suối La như bị ốm sau một cơn giông chằng chịt lửa điện. Nước từ thượng nguồn tím bầm màu máu chó, sôi sùng sục, phóng những bước nước rút của một con báo, từ trên thác Cao Pha xuống, như chỉ chực liếm cái tổ ấy vào trong ruột lũ.

THEO EM VỀ PHÍA NÚI

            Chiều thứ bảy.
            Đám học trò háo hức thay cho cái háo hức của Ngân, túa về các ngả, khuất nhanh vào lớp lớp cây rừng. Đã hai năm, kể từ ngày Ngân lên dạy học trên ngôi trường bản cao chót vót như thể nửa tầng trời này, chưa bao giờ quen được nỗi buồn da diết với cái không khí ắng lạnh mỗi khi tan lớp.

MÓN QUÀ TẾT

M

ặc dù xuống núi từ lúc gà gáy nhưng Vi vẫn không kịp đón chuyến xe cuối cùng trong năm. Chẳng biết giờ này Nguyên ở đâu. Trong thư gửi cho Vi, anh hẹn tết này về quê Vi ăn tết và dặn nhớ đón anh trên chuyến xe cuối cùng về tỉnh, rồi hai đứa chuyển sang xe “chạy suốt”, đi thông đêm thể nào cũng kịp đón giao thừa. Giờ thì muộn rồi.

TRĂNG THU HUYỀN ẢO

A

nh choàng tỉnh bởi tiếng đập cửa. Sau lưng bà chủ khách sạn Sơn Cầm, những sắc phục xanh lẫn vào ánh đèn hành lang màu nõn chuối. Đã lâu lắm anh mới lại có một giấc ngủ ngon đến thế. Anh đã cật vấn mình không biết bao lần là tại sao mình lại hay mất ngủ.

CON CHỮ… 135


Phóng sự 



Chưa tìm thấy bản thảo