Những
chiếc chông đá được nước dưới vực Quan Tài ngày đêm gọt mài nhọn rợn, đang há
ngoác ra chờ hứng thứ tội lỗi từ trên trần ai đổ xuống. Tôi đờ đẫn buông tay
cho mâm lễ vật xin vợ tuột thoát, trôi hút vào họng lũ. Con thuỷ thần không để
lại một vết mỡ loang. Dòng sông chống chếnh. Núi rừng chống chếnh. Tôi chống
chếnh như vừa nuốt nhầm nắm lá ngón. Tâm trạng đứt đoạn, rời lìa như khúc guột
bị băm cắt. Sự bất định và chênh chao đổ vào não một quyết tâm bất dịch. Tự
vẫn! Chỉ có chôn sống mình trong lòng hãn thuỷ, mới hòng gột sạch kiếp nhục này
- kiếp nhục của một thằng thanh niên tử tế, không dễ gì chịu nổi.
Cái
giọng dài uốn éo như sợi sắn rừng của bà Đèo Pẩu - mẹ Đèo Nương - luồn từng cọng
vào đáy não:
- Dòng họ ăn cắp vĩnh viễn không thể mon men gần họ Phìa họ Tạo (họ vua họ
chúa)! Nhà ta không phải là pơn thóc
nếp để con chim, con chuột vào đào hang, làm tổ…
Nhục nhã quá!
Theo phả tổ, dòng họ Ló di cư từ Vân Nam - Trung Quốc đến Then Luông
(Mường Trời) từ thế kỉ thứ VIII. Nói như bà Đèo Pẩu, hơn 1000 năm qua dòng họ
Ló sống được là nhờ ăn cắp?
Mắt tôi như bễ lò rèn.
Đầu có hàng ngàn con ong đất, ngùn ngụt bò ra.
Dưới hun hút vực nước đỏ như một thung lũng tiết trâu, nàng tiên cá hiện ra mời
gọi. Nàng tha thiết trong bộ vây lóng lánh của nữ chủ nhân thủy giới…
***
Ở Nưa Tở của tôi, chỉ duy nhất dòng họ Ló. Nhìn từ trên pú Khao, pú Khịt xuống,
Nưa Tở như một nhúm cỏ khô, ai rắc xuống lưng chừng rừng. Khau
cút họ Ló, muốn gì
thì muốn cũng không sáng tạo hơn hai mảnh tre bổ đôi, vắt chéo (khau cút pang). Khau
cút quai (sừng trâu), khau
cút chim may (mặt
trăng khuyết), hay khau cút pua (hoa sen, thanh gươm)… tượng trưng cho
sự giầu sang, quyền quí là của các dòng họ Hà, họ Cầm, họ Đèo… .
Ông nội tôi kể, dòng họ Ló ngày xưa là tôi tớ cho các dòng họ khác ở Tây Bắc.
Kiếp tôi đòi trâu ngựa lâu đời trở thành một loại gen đặc trưng, thấp cổ bé
họng, co dáng quắp hình. Nhiều khi, đến con kiến cũng có thể cắn, có thể đốt họ
Ló. Đến khi đất nước độc lập, họ Ló ở Nưa Tở vẫn không ai được bầu làm đến chức
tổ trưởng trong cái mô hình kinh tế tập thể kiểu cũ (tổ trưởng; đội trưởng; chủ
nhiệm…). Cao quí nhất thì cũng chỉ là đi lính, đi dịch. Học hành càng không
quan trọng. Họ Ló có độc nguyền là, tắt tối khai khẩn để cho những tháng đói
trong năm không dài mãi ra. Thế thôi. Ai không giam thân cầm phận theo độc
nguyền đó được coi là nghịch tằng, phản tổ. Tôi, theo dân làng thì: “Cái loại
trứng khôn hơn ngựa!”, đó là tự ý đi học hết cấp ba. Biết rồi, mục tiêu phấn
đấu cuối cùng cũng chỉ chấm đến chân trưởng bản nhà mình, ấy là còn chuyện chưa
chắc đã có ai bầu. Tôi chỉ còn biết một điều rằng, khát vọng hiểu biết cứ như
con ma rừng cắm răng vào tim. Cả Nưa Tở chẳng ai hiểu nên cũng không có sự
thông cảm nào được dành ra.
Mình tôi một ngõ đời, cô độc và lẻ chiếc.
Dù sao thì tôi vẫn tôn trọng điều độc nguyền ấy của họ Ló, nhưng ông trời thì
khác; tưởng đơn giản như vốc nước suối đổ vào miệng trước cơn khát rừng, nào dè
ông không chấp thuận. Củ sắn, bắp ngô họ Ló trồng cứ teo dần, lâu ngày người ta
gọi là ngô trứng chim, sắn cứt chuột. Trâu bò họ Ló là trâu bọ, bò kiến. Gà vịt
họ Ló là gà tre, vịt cỏ. Chó săn họ Ló là chó muỗi, chó ruồi… Họ Ló làm cái gì
cũng khó. Manh áo cứ như đổ chàm, đen dần vào đến thắt lưng. Những hoa văn thổ
cẩm sóng sánh, ngày một rơi rụng nhiều hơn về mồ cha mả tổ.
Con trai họ Ló lùn dần theo từng bậc thang, càng ngày càng men cao lên đỉnh
núi. Da mặt đen như màu rừng cháy…
Con gái họ Ló vai u thịt bắp vì trăm gánh ngàn gồng. Áo cóm ngắn dần theo cơ
thớ nở ngang. Bàn chân bè toẻ như đá phiến. Bàn tay đanh cấc như cán búa, cán
rìu…
Nhìn vào các thế hệ tương lai của họ Ló, sự quan ngại cắm vào mắt. Nghĩ về
thiên lương của họ Ló, cái cản trở đóng vào não. Hy vọng đổi đời ư, chỉ như bị
hổ cắn vào tim thôi.
Các già làng Nưa Tở lại họp. Họ hỏi nhau:
- Học chữ có thể đổi nhục thành vinh thật không?
Già làng phụ trách chức sắc nghi ngờ:
- Thấy bầu cử toàn yêu cầu trình độ.
Già làng mùa màng đưa cả triều đình họ Ló vào đáy hang:
- Phải giỏi vượt các dòng họ khác. Nhưng chưa đủ đâu, còn thoát xa khỏi vùng
của Phìa, Tạo thì chức cán bộ mới nằm chắc dưới hai bàn chân…
Cuối cùng, thống nhất theo ý kiến của già làng giống nòi:
- Hoà giải!
Nhưng họ mình có thứ quyền gì mà yêu cầu các dòng họ cao quí khác? Mình cũng
chẳng có gì để mặc cả? Chả nhẽ mang cái độc quyền nghèo đói sang cầu xin họ?
Già làng nòi giống vuốt râu cười. Cả họ truy vấn, ông thong thả:
- Bắt dâu!
Ồ! Thế mà không nghĩ ra. Phìa, Tạo chịu gả dâu cho mình, thì ngang ngồi còn gì.
Phạ ơi, lối thoát đang từ trên trời rơi xuống. Tôi được gọi đến. Nhưng cũng bắt
đầu từ hôm ấy, tôi sốt li bì. Chẳng hiểu bệnh gì. Họ Ló có biệt tài bốc thuốc,
cứu người. Rắn cắn, vô sinh, đứt gân, điên rượu… thôi thì tất tật. Được họ Ló
cứu, tuyệt không ai mất tiền. Họ Ló không biết bán những thứ làm ra, nhất là
bán những thứ tộc truyền, tộc bảo. Vậy mà các thần y họ Ló bó tay cả bên con
bệnh của tôi. Cứ chiều đến là tôi sốt. Sốt như súng kíp nổ, đùng đùng. Mồ hôi,
thậm chí cả máu mắt vãi ra. Sốt cho đến sáng thì khỏi. Và chiều hôm sau lại
thế.
Từ bản họ Ló sang bản các họ khác không xa, chỉ nửa lần trăng mọc là tới.
Những, khi bớt quay cuồng mộng mị, thì con trăng đã rơi thăm thẳm qua kẽ nứt
tường nhà. Trong đầu tôi, mặc cảm về dòng họ vẫn như bắp được mùa: bước chân
thon ngần, thong thả, thảnh thơi của con gái họ Hà, họ Cầm, họ Đèo… không bao
giờ bước vào con đường mòn của họ Ló. Tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng tính tẩu của
con trai họ Hà, họ Cầm, họ Đèo… cũng không bao giờ kể chuyện cho con gái họ Ló
nghe.
Họ sẽ vẫn mãi mãi thế!
***
Cả Nưa Tở không có lấy một bóng cây. Từ tổ tông đều thế, trơ gia trọi thổ. Đất
dưới chân thang cứ như có chất hoá diệt, khô độc khô địa. Nhưng ít nhất, bên
cạnh cái cằn cỗi ấy, cũng có chút ý nghĩa mang tính văn hoá bản ngã độc đáo.
Mái quần cư họ Ló chạm mái, sàn tụ sinh họ Ló liền sàn. Nhà họ Ló nọ sang nhà
họ Ló kia chỉ bởi một tấm phên đan; đôi khi là một đoạn cầu vượn, đi cây, vịn
dây. Quần thể cư thôn ấy, giống như một ngôi nhà trăm gian, có điều, tất cả mọi
vật chất, và tinh thần vẫn nằm trong tiểu ngã tư riêng.
Về mùa mưa, bản họ Ló nghe tiếng mõ gọi rượu, các “trưởng nhà” đi xuyên qua tư
gia nhau, lũ lượt kéo đến nơi có tiệc mà không ướt gót. Rượu không ngã đất, chỉ
ngã vào sàn nhau, giường đệm nhau. Con trai, con gái họ Ló ỉn sao,
ỉn báo trên sàn,
trong quản, trong buồng… Trai họ Ló gõ vách, dỡ cửa chứ không chọc sàn con gái.
Con gái nằm ở đâu, cả bản biết tỏng. Canh hai gà gáy mò sang, luồn tay qua
vách, tìm chỗ nào dễ hiểu nhau nhất thì chạm vào. Chó chẳng cắn nửa tiếng. Bố
mẹ chẳng ho nửa câu. Nhà nào có con gái lớn thì không nuôi chó đẻ, không khoá
cửa. Chó dữ mất rể, cửa cài ế con!
Không đi chọc sàn họ khác được, tôi cũng chẳng được gõ vách, cạy cửa họ Ló.
Phần vì tôi đã là người hiến dâng, người tế họ. Phần vì bố tôi làm nhà tách ra
khỏi cái quần sinh ngụ tụ ấy; mái cách mái, sàn ngắt sàn. Năm tôi mười bảy, cả
Nưa Tở cháy rụi vì tàn nương bay vào mái gianh. Cháy một nhà là cháy cả bản.
Thiên đình cũng chẳng cứu được, bởi nước trời mùa khói nương còn nấp đằng sau
mặt trăng, mặt trời. Bố đi tập huấn phòng cháy chữa cháy trên xã, về là bê nhà
tách ra, trồng cây, đào ao… . Nưa Tở chẳng noi gương, mà lặng lẽ tẩy chay nhà
tôi ra khỏi họ. Cái sự độc lập ấy, họ Ló bảo, là nghi kị nhau, phòng bị nhau
như kẻ địch. Đấy là cung cách của những dòng họ tiến bộ - những kẻ luôn “ăn
đầu” nhau, thậm chí là ăn thịt cả tổ tông họ Ló (các dân tộc khác không kiêng
ăn thịt loài chim Táng Ló mà họ Ló tôn bảo là tổ tông của mình). Việc bản gọi
tôi đến, vừa là cho cơ hội chuộc tội, vừa là hy vọng lớn lao.
Tôi cũng muốn cố, nhưng ốm dai ốm nhắch cả năm trời. Người xanh như củi nhuộm
chàm. Đã đến thế rồi mà chiếc cầu thang nào, đêm đến cũng bị rấp gai, buộc
chông… Tiếng là để ngăn thú dữ lên thang, nhưng thời sách đỏ ngày một tăng
trang, làm gì còn hổ báo nữa mà chặn cản. Họ chặn tôi. Không có đường thông sàn
thì chỉ còn lên thang. Nhiều đêm, tôi đứng dưới sàn nhà Lướt, nghe tiếng sột
soạt, tiếng rên rỉ, xuýt xoa… Cho đến khi tiếng tim dứt cơn hợp tấu… tôi
mới ngào nghẹn bứt ra. Con chó muỗi chào tôi như chào chủ về cá. Nó không thấy
mắt tôi rắc tỏi. Nó cũng không nghe tim tôi đá đè. Nó rên rỉ như những kẻ vừa
được chia phần hơn lợi phẩm.
Tôi và Lướt chỉ biết ngắm nhau cách khe, cách núi. Lần mong đợi nhất, thường là
vào cuối mỗi ngày. Con suối Nưa chất đầy lưng trắng. Con gái Nưa Tở ra đây,
trút mọi ngọc ngà vào lòng suối trong leo như dòng nước mắt. Cả cái rừng hoa
trắng rưng rưng ấy, Lướt nổi lên long lanh giữa đá, nước và mây trời. Bàn chân
Lướt thon nõn như chân con gái họ Hà, họ Đèo. Bàn tay như nặn bằng nước, dịu
ngọt, mơn man. Mỗi lần Lướt trở về vóc ngọc khôi nguyên, bạn tắm bâu vào mơn
trớn, ve vuốt. Nàng như viên ngọc của bản. Bố mẹ nàng từng đánh tiếng, ít nhất phải
gả nàng cho một trưởng bản tương lai. Lướt thường được đem ra làm nhân mẫu hoàn
hảo nhất của dòng họ Ló ở Nưa Tở để cáo cúng ma bản, ma ngô khoai, ma rừng…
Như một bóng ma, tôi ngồi trên ngọn cây mắk hón, không dám thở. Mỗi lần gió đến,
tôi muốn tan ra vì sợ bị bắt quả tang. Lướt bao giờ cũng biết, ngước mải lên,
rồi lại giấu nhanh nụ cười vào với trong xanh. Nàng chênh chếch hai bầu vú
đương thì, trắng nõn như thể khẳng định với tôi về cái bản năng thiên phú.
Không cần thử! Tuyệt đối không cần thử! Ngoài lúc ấy ra, nàng không bao giờ có
cử chỉ gì, kể cả khi giáp mặt nhau giữa đường rừng. Nhìn vào mắt nàng, tôi thấy
cơ hội của mình như hơi sương chính ngọ. Trước ngày, tôi đã được bố Lướt gọi
rượu pán nưa (mâm
trên - dành cho những người đàn ông quan trọng). Tôi được sắp cỗ cúng, được cầm
dao đâm trâu, được khoác “tướng” súng… trong nhà Lướt. Nhưng vì cha, và vì cả
tôi - kẻ “trứng khôn hơn ngựa” - nên cơ hội tôi có Lướt như lửa cỏ gianh. Dễ
cháy, mau tàn.
Thế
rồi cũng tới ngày tôi tiễn Lướt về nhà chồng. Lướt lạnh lẽo như chưa từng biết
nhau. Người ta nói, con gái họ Ló coi chồng là nhất. Bố mẹ không thể đánh,
nhưng chồng có thể. Chồng chửi, vợ họ Ló cười. Bố mẹ chửi, con gái họ Ló cãi.
Với Lướt, hình như hàng trăm buổi chiều leo cây, hàng chục lần phụ bàn cúng,
uống rượu mân trên… của tôi không hề tồn tại.
Tôi lặng lẽ bỏ bản ra đi. Con trai họ Ló 20, không có con gái để ý coi như
người ma. Tiếng tính, tiếng pí…
mang vào rừng sâu mà ve chim vãn thú. Tấu cất ở bản, có chuyện chẳng lành gì
xảy ra thì thành tội tộc.
***
Sau bao năm hành khất, tôi lầm lũi quay về. Nưa Tở chẳng đổi thay là mấy. Nhiều
nhà đã chặt đứt con đường liên sàn. Tư hữu cả rồi, nhưng vẫn trơ nhà trọi đất.
Hình như đây là một trong nhiều minh chứng cho cái thuyết về dòng họ ăn cắp.
Không trồng gì nổi vì ăn cắp. Không làm gì nổi vì ăn cắp.
Tôi lững thững ra con suối Nưa, đá đã hở đầu lô xô. Nước hục hoặc dưới chân
sỏi. Chắc chẳng ngập nổi bắp chân. Đang tìm cây bồ hòn, tôi bất ngờ gặp lại
Lướt. Vẫn như ngày nào, Lướt ngẩng cao đầu bước đi. Tôi không dám nhìn, mà miệt
mài ngó quanh. Cây bồ hòn đã bị ai đó hạ làm gỗ thưng nhà. Gỗ bồ hòn xốp như
bông, thế mà vẫn hết. Những làn da non mịn không còn đủ dũng cảm và niềm tin
gửi mình vào con nước cạn nhiễm. Chỉ gái có chồng như Lướt mới dám tắm. Những
người phụ nữ tuổi Lướt ở Nưa Tở, áo cơm đã tôi da luyện thịt thành sắt dầm, đá
móng. Vẫn như ngày nào, Lướt hồn nhiên lộn váy, vấn lên đầu. Mảng lưng đã lên
màu bồ hóng. Nắng quê mình đốt người khủng khiếp. Bàn chân, bàn tay Lướt đã toè
ra như rễ chổi. Gai sắc, thô sạm. Hai bầu vú rủ rũ một màu nhọ nhồi. Tôi bật
khóc:
- Lướt ơi!
Người
đàn bà không ngoảnh lại:
- Anh nhầm rồi.
- …
Tôi
rảo hành trên con đường rượi cỏ. Dấu chân qua lại như đã hoá thạch, phong rêu
xanh rì. Một nhà bên đường có tiệc. Bây giờ Nưa Tở không đánh mõ mời uống rượu
như hồi xưa, mà khách sáo đến tận nhà, mời nhau bằng mĩ từ có cánh. Thế rồi mà
vẫn phải đáng ông thì ông mời, đáng anh thì anh mời… . Văn hóa ấy không phải
của họ Ló. Lên đầu dốc Hua Mường, lại một nhà nữa uống rượu. Tôi bước lên
thang, một chị phụ nữ niềm nở mời ra nặm hạn (nơi
nước chảy về sàn) rửa tay. Chưa kịp chùi vạt áo, tôi đã được kéo vào mâm, bát
đũa như biết sẵn. Chủ nhà là một lão ông râu bạc, giống mo
mường, trịnh trọng:
- Hôm nay dệt peng khuân (làm lễ sửa vía) thằng cháu
nội, quí khách đi ngang nhà là một điềm lành. Gia đình chúng tôi có thịt lợn
còi, rau cải cọc, chén rượu nhạt, bát cơm vơi… mong quí khách không chê.
Tôi
cầm chén rượu ó hảnh (dốc
cạn), rồi ngó quanh thấy hàng chục người nằm nôn mửa la liệt khắp sàn nhà. Có
bước chân thanh thoát lên thang, các nữ chủ nhân lại lục tục ra đón, rồi sắp
bát, ngửa chén, hâm canh… Vị khách (cũng lạ) cười ồng ộc như lăn gỗ, ngồi xuống
mâm. Ông mo nhà vẫn điệp ngôn cũ, nhưng khách lần này biết đứng dậy vỗ từng cái
mông mơi ải tứn, mơi ao tứn (mời
bố, mời chú… dậy uống rượu). Có cái đầu lắc quầy quậy, chắp hai tay so
lụ (xin phép con); có
người lồm cồm bò dậy, vừa nôn, vừa đổ chén rượu còn bốc khói vào mồm. Tôi như
được sống trong bầu không khí của mình. Nưa Tở vẫn còn những cuộc lảu
non (uống cho đến khi
nằm xuống mâm mới thôi) với những vị khách “không mời mà đến” khiến đàn bà con
gái trong nhà sau mỗi cuộc rượu, cứ như vừa từ bệnh viện về, suy nhược đến hồn
siêu phách tán.
Văn
hóa rượu ấy thường sau mỗi vụ gặt, dù mẩy hay lép thì cũng uống đến gục xuống
mâm, gối đầu lên cả bát tiết mà say một cách sung sướng. Uống đến khi nào trong
nhà chẳng còn gì để uống nữa, mới lóc cóc lên rừng bòn rễ tìm củ. Khái niệm
tiết kiện và dành dụm chỉ có trong cái đài, đêm ngày kêu ong óc như đuổi ma
chơi.
***
Một
trong những cuộc gặp trên con đường lãng phiêu của tôi là Duyên - cô gái họ
Bạc, đẹp đúng như trong giấc mơ hồi ở Nưa Tở. Duyên là sinh viên cao đẳng sư
phạm, đã được bố mẹ Kinh hoá từ lúc lọt lòng. Duyên không phải ăn sắn, không
mặc váy chàm, không đi chân đất. Duyên yêu một anh chàng người Kinh giàu có.
Mỗi cuối tuần, gã người Kinh phóng chiếc Harley Davidson trị giá cả triệu USD
vào trường đón Duyên. Ngày Duyên tốt nghiệp, hắn đến chia tay. Lời thề hợp hôn
được đáp lại bằng một sấp tiền. Duyên ném bó tiền ra đường, bánh xe và những
bàn tay lạ cuốn đi.
Duyên
vốn là con của ông chủ tịch huyện. Chẳng biết từ lúc nào, Duyên gục đầu vào vai
tôi:
- Thành phố hiểm ác quá Núi à.
- Ừ. Bụng mình không có dao có búa, không sống nổi đâu. - Tôi vụng về bên nỗi
đau đời của nàng.
Nàng đưa tôi về ra mắt ông chủ tịch họ Bạc. Ông có vẻ không mấy thoát li, từ
dáng vóc đến tập tục sinh thực sau mỗi vụ mùa. Ông rất thích ăn những món cá
tôi chế biến. Mỗi lần từ ủy ban về, ông chủ tịch họ Bạc lại cầm cần câu lục ra
cái hồ dài gần bằng tầm mắt, quăng cá. Lần thì bắt tôi làm pa
cỏi (gỏi cá), lần thì pa
giảng (cá sấy ôi),
rồi pa pỉnh (cá
nướng)… để ông uống rượu sơ với mấy con ma men thời niên mọn. Ông khen tôi,
trai Kinh mà uống rượu cừ như người dân tộc.
Tôi chưa kịp há hốc mồm, đã nhận được cái nháy mắt của Duyên.
Nhà
họ Bạc không còn nối dõi. Đứa con trai duy nhất làm trong ngành hải quan mới bị
tai nạn giao thông chết đầu năm ngoái. Ông chủ tịch muốn kén rể làm trưởng tộc.
Duyên vì thế mà hơi quá lứa so với tập tục tảo hôn bản địa. Từ khi có tôi, ông
chủ tịch uống rượu nhiều hơn, vui nhiều hơn, hay nói chuyện gia thất của Duyên
nhiều hơn. Ông chỉ vào đám đất mặt thị hơn ngàn mét bảo: “Chỗ này là dinh của
nó (tức Duyên); cái hồ kia cắt cho nó một nửa để làm bể bơi, nó thích hiện đại.
Còn chỗ ấy sẽ là nhà thể dục nhịp điệu. Nó muốn có một sân khấu ngoài trời để
thỉnh thoảng rủ rê bạn bè… ”. Ông còn tiết lộ với tôi cả nơi ông bà yên nghỉ,
nơi giao hiếu tổ tiên và, các món ăn ông thích nhất khi đã về… âm phủ. Ông thì
thầm: “Cậu là người quan trọng nhất đấy!”
Trở
về thành phố, ban ngày tôi ném mình ra đường. Tối mang những đồng bạc ướt đẫm
mồ hôi và máu về bên Duyên, trong kí túc xá. Khuya, ra phòng bảo vệ xin ngủ
nhờ. Tôi sợ khoảng cách cướp mất Duyên. Duyên mong manh như hạt sương trên núi.
Gã bảo vệ nháy mắt:
- Gớm! Nghi binh làm gì. Nó quen rồi, đêm thèm chẳng tháo quán ra.
- Bác đừng bôi vào trong trắng của cô ấy.
- Thôi đi bố. Yêu bọn con trai người Kinh mà còn gì.
- Nương bảo cháu thế.
- Nó bảo mày nhẩy thác có nhẩy không?
- Có!
- Thế nó phản bội?
Tôi
lặng câm!
***
Tôi thả bước trên con đường xuyên qua khu rừng dẻ, bỗng nghe tiếng chuông dê
núi. Tiếng chuông lanh canh lớn dần. Bên kia khúc ngoặt, một con dê đực
gần năm chục kí, bộ râu xồm che kín quả chuông đồng, thũng thẵng dắt một người
đàn ông hộ pháp, thông qua một chiếc gây lèo, được móc hờ vào chiếc vòng cổ đeo
chuông. Người đàn ông băng kín đen nửa phần mặt trên bằng một vuông vải chàm.
Tôi nép vào vệ đường, nhường đàn dê đi qua, nhưng ngang tôi, con dê đầu đàn
bỗng dừng lại, miệng rên bậm bẹ như gặp bạn tình. Gã hộ pháp hỏi vào rừng rậm:
- Phơ đề? (Ai đấy?)
- Cu (tao), Núi.
- Thằng Núi đất, con ông Đồi?
- Phải. Mà anh là…?
- Tao, Thận Trọng đây.
- Mày… Thằng Thận con ông Cẩn?
- Đúng, nhưng con cả tao tên Trọng, nên giờ tao là Thận Trọng.
- Mặt mày sao bưng bít?
- Chuyện dài, về nhà tao kể.
- Nhà ở bản nào?
- Trong rừng.
Thì
ra cái trang trại trăm đầu duy nhất Nưa Tở hay vác ra khoe là của Thận (trăm
đầu gà vịt; trăm đầu lợn; trăm đầu dê; trăm đầu trâu, bò, ngựa…). Tôi làm thay
nhiệm vụ của con dê đực đầu đàn, dắt Thận men theo con đường rừng gập ghềnh vào
sâu trong dãy núi có sân voi chơi (pu Trạng
Ỉn). Lên lưng chừng núi, nơi hồi bé chúng tôi gọi là Dốc Ngại Tắm -
dù có nóng thế nào chăng nữa, nhưng cứ tới đoạn dốc này là nổi hết gai ốc,
không dám dúng người xuống nước - xa xa dưới chân thung, lộ ra một khu trang
trại được dựng toàn bằng gỗ thồ lộ. Từ trên dốc Gấu Ngủ, Thận bắc loa tay gọi
vào không trung: “Mình ơi, có khách nhé”. Tiếng hú vập vào bốn hướng, rền như
tiếng hang. Từ khi Thận hú, phải mất gần 30 phút loanh quanh nữa, chúng tôi mới
về đến trang trại. Chưa lên thang đã thấy mâm bát lách cách. Tôi rẽ sang chỗ
chiếc máng dẫn nước từ tít tắp đỉnh núi Trạng Ỉn, đang chảy tồ tồ xuống cái ao
ngót ngàn mét vuông, tranh thủ tắm táp khi thân nhiệt còn chưa kịp tụt. Ở vòi
nước chảy lên tận đầu sàn, Thận và vợ hắn trần truồng, xì xụp cọ rửa cho nhau.
Người đàn bà có tấm lưng bồ hóng đang múc từng gáo nước ấm nóng đã đun sẵn, dội
cho chồng. Thỉnh thoảng, người đàn bà nghiêng mình tự kì cọ. Tôi định quay đi
cho vợ chồng Thận tự nhiên, bất chợt đôi vú màu nhọ nhồi, nhăn nhúm tong teo,
đập vào mắt. Tôi sững người: Lướt!
Lướt
vẫn coi như không quen tôi. Ba người ngồi quây quần bên mâm cơm gà thả rừng
thơm phức. Thận bắt đầu kể về đôi mắt mất hết cả hai con ngươi, để lại hai cái
hố đỏ hoắm, dúm dó và gớm ghiếc. Để thoát nghèo, Thận phải theo bưởng Càn lên
Pu Sam Cáp đào vàng. Trong địa đạo sâu hơn một trăm mét, ăn ngang hơn bốn trăm
mét nữa, Thận là người duy nhất trong số hơn hai trăm cửu vạn của bưởng Càn,
dám chui vào châm ngòi nổ khối bộc phá hơn chục cân. Lý do phải dùng mìn khoan
là vì các nhà trắc địa chuyên nghiệp tính toán, mở được vỉa đá dày chừng hai
mươi mét này, con đường hầm sẽ chạm đến một mỏ vàng có trữ lượng hàng tấn. Ở độ
âm gần sáu trăm mét trong lòng đất, mấy chiếc ác-qui chín vôn, được nạp căng từ
ngoài thị trấn, dùng ngựa thồ cả ngày đường vào, cũng không đủ điện kích hoạt
khối nổ. Các bưởng chỉ còn cách dùng tính mạng của cửu vạn để đánh đổi vận may.
Trước khi xuống, bưởng Càn làm một lễ truy điệu cho Thận. Trước nữa, bưởng sai
đệ tử mang năm mươi cây vàng, cắt bốn, năm ngày rừng, tìm về nhà ông Cẩn
để mua mạng Thận. Tất nhiên là ông Cẩn không biết con trai phải chết. Tốp người
ấy mang về một chiếc băng Cassette. Trước giờ tử, Thận được nghe giọng nói vô
cùng hân hoan của bố, mẹ: “Cảm ơn con, con trai! Con đã thay vách nhà mình, họ
mình rồi…”. Nghe xong, Thận cam tâm gieo mình vào địa huyệt.
Sợi
dây cháy chậm hàng trăm mét được Thận châm ngòi, rồi vội vàng bò ra khỏi địa
đạo. Ba mươi phút. Một tiếng. Hai tiếng… lòng đất câm bặt. Thận bò xuống. Đoạn
dây cháy được chừng ba chục mét thì bị dập, rơi hết thuốc. Thận châm lại. Một
giờ sau vẫn câm bặt. Bưởng Càn lôi lại bảo: “Hay thôi?”. Giọng bố vẫn đang cười
trong tai, Thận quả quyết: “Em xác định rồi!”. Đoạn dây cháy được chừng ba chục
mét nữa rồi lại tắt. Thận dùng lưỡi rà dọc theo thân dây, không thấy vị thuốc
nổ mới đốt tiếp. Bò ra được hơn trăm mét thì khối nổ phá ra. Một luồng áp nặng
hàng tấn ập đến từ phía cuối đường hầm.
Thận tỉnh dậy khi đã nằm hơn chục ngày trong bệnh viện. Tinh thần hoảng loạn,
không gian tối bưng. Một giọng nữ cất lên chúc mừng: “Anh sống được là một kì
tích. Những trường hợp thế này, thường đứt dây thần kinh, vỡ não, vỡ tim… chứ
không vỡ được mắt. Anh ngược lại, những thứ khác dường như bằng thép; còn mắt
thì bằng… thuỷ tinh”.
Bưởng Càn đưa Thận về Hà Nội, chữa chạy suốt hai tháng, rồi lại sang Singapore điều
trị tiếp hơn một tháng nữa. Tinh thần Thận đã trở lại bình thường. Bưởng Càn
đưa Thận về nhà mới biết bố mẹ và năm đứa em đã chết được tròn trăm ngày. Thì
ra, toán người bưởng Càn cử đi đền bù mạng Thận, sau khi giao vàng xong, lấy
được giọng nói đầy cảm động của ông bà Cẩn, đã giết chết cả nhà Thận để cướp
lại số vàng.
Thận
nằm bẹp bên ngôi mộ toàn gia, dân bản đắp to như đống rơm được mùa. Chẳng biết
phải căm hận ai. Bưởng Càn thì tuyệt nhiên không. Những ngày nằm bên Singapore , số
tiền bưởng Càn bỏ ra cho Thận nhiều như lá rừng Nưa Tở; không cớ gì lại hạ lệnh
cướp lại năm chục cây vàng. Thận lần đến bụi lá ngón. Hồi còn sáng mắt, đã có
lần Thận tìm đến bụi cây này vì bị người yêu lướt tình.
Một bàn tay mảnh mai chặn Thận lại.
Trong
căn lều lợp tạm bằng lá chuối giữa rừng, Thận nghe Lướt kể về cuộc đời mình. Ba
lần lấy chồng, thì một chồng chết vì say rượu. Say đến nỗi, từ hàng trăm lần
ngủ bờ ngủ bụi, cũng đến một lần ngủ nhầm sang kiếp sau. Người chồng thứ hai
thì hoang dã, hung hãn và côn đồ. Cả bản sợ anh ta như sợ hổ. Vì gây thù gieo
hận nhiều nên một lần đi săn, một ông già sáu mươi đã bắn chết “do nhầm đấy là
con hổ”. Người chồng thứ ba thì nghiện thuốc phiện. Khi chết đi rồi vẫn còn để
lại cho Lướt và ba mặt con một kiếp sinh thực nhục nhằn. Từ bấy, người đời gọi
Lướt là Lướt “ết”…
Đêm ấy, Thận xin Lướt về làm vợ.
***
Đêm rừng đẩy người đàn bà vào trong đống chăn, đệm bông lau. Hai gã đàn ông,
một mù do không có mắt, một mù do đêm bịt mắt, ngồi như tan vào nhau:
- Nghe nói, suốt quãng thời gian sống với ba người chồng cũ, Lướt vẫn ra suối
Nưa tắm, ngay gốc cây bồ hòn mày ạ. Đến khi người ta hạ cây bồ hòn, Lướt ốm
liệt cả tuần. Chẳng hiểu tại sao? Bây giờ, mỗi dịp về thăm bố mẹ ở bản, Lướt
vẫn tranh thủ ra đó tắm kì được, rồi mới về.
- Mày không hỏi Lướt?
- Có?
- Lướt bảo sao?
- Tao càng thắc mắc, Lướt càng lặng thinh.
- Thôi, chắc Lướt có lời nguyền nào đó. Để cô ấy yên.
- Tất nhiên là tao muốn cô ấy yên, nhưng không muốn mày được yên.
- Là sao?
- Mày còn yêu Lướt?
- Không.
- Mày nói dối. Nếu còn yêu thì ở lại với Lướt đi… Tao muốn về theo bố mẹ.
- Mày điên rồi à?
- Mày mới là thằng điên.
- …
Thận
hỏi tôi còn nhớ cái khúc ngoặt lúc gặp Thận không. Đấy, cái gò to như gian nhà
trình tường ấy đấy, không phải là mối đâu, mà là mả của già làng phụ trách mùa
màng của Nưa Tở. Năm ấy, con buôn vào tận bản trả tới 1.500 đồng cân sắn tươi.
Dân bản nhổ cả những cái rễ mang bán. Bán hết của nhà mình thì “mót” của những
nhà nhiều nương hơn. Chỉ độ một tuần, nương đồi Nưa Tở trơ ra toàn đất. Mọi
năm, đến “tết Lao Động” năm sau núi vẫn chưa hết màu xanh. Nhiều tiền thì nhiều
rượu thịt. Đình đám từ đầu chạp, nối nhau chạy vượt qua giêng. Riêng năm ấy,
gió Lào mang cái đói quay quắt về núi. Già làng mùa màng vượt sang bản khác
“xin” sắn. Một bữa, từ trên pu Khịt nhìn xuống, con đường vào bản đầy ắp giáo
mác gậy gộc. Họ Hà giải già làng mùa màng sang, trói ở gốc cây ngái trên dốc Pu
Mường. Họ nọc tội ăn cắp của già. Họ phạt già 1 trâu, 1 lợn, 10 gà, 2 chum rượu
và 2 bao gạo để cúng ma nhà, ma bản, ma nương của họ.
Cả Nưa Tở giật thót mình. Trước đây, người Nưa Tở vác dao sang nhà hàng xóm
chặt cây chuối xuống để lấy lá gói cơm; tiện tay nhặt cái cuốc, con dao… của
nhà khác để như của thừa. Chuyện đào vài gánh sắn ngoài nương là chuyện… thuộc
về “văn hóa”! Chẳng ai trách oán ai, vì tất cả như nhau. Hôm nay mới biết: lấy,
mượn, xin… vắng mặt đều là ăn cắp. Mà tội ăn cắp với ăn cướp là một…
Già làng mùa màng đập đầu vào gốc cây chết tươi trước mặt cả bản.
Thận
đăm chiêu trong từng trường đoạn: Ló Càn bảo không riêng người Nưa Tở mà ở quê
Ló Càn cũng thế. Cả mấy ông học xa hiểu rộng, cái tri thức mở ra vô vàn con
đường minh bạch nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi những hành vi mà theo họ là hết sức
thường tình. Trí thức như tiếp thêm sức mạnh cho họ, biến tướng cái “văn hóa ăn
cắp” của mình ra trăm con đường trục lợi khác. Ló Càn đã nghe Thận kể chuyện về
tôi, về cách “thay máu” mà các già làng đã họp. Ló Càn cười choang choách như
giật kíp mìn.
Thận bảo, từ ngày già làng mùa màng chết, hình như nạn ăn cắp mới thực sự bắt
đầu. Không còn chỉ là “văn hóa ăn cắp” để lấy may, lấy khoẻ, để không thành con
ma… nữa, mà giống như làng ăn xin, xã ăn xin, huyện ăn xin… về mua vàng, xây
nhà sống ở thắt lưng đất nước. “Người tốt” cứ vô tư mở cửa nhà nhau khi chủ nhà
đi vắng, nhưng không để xin miếng nước, bát cơm lúc lỡ độ đường mà là vặn khóa
hòm, vác tivi, thuổng đầu đĩa… Đêm đêm, vách nhà có con gái lớn vẫn bị dỡ, bị
phá… mà con cái cứ ế chồng dài. Nghĩ mãi, cuối cùng nhiều người dựng lên một
nhân vật phi hình trong nhà, đó là Ma Xó. Ma Xó sinh ra là để bắt trộm. Ma Xó
biết phân biệt, khách thì cho cơm cho nước; trộm thì vặn cổ bẻ chân. Nhưng rồi
cuối cùng, chính “vị thần bắt trộm” lại bị… trộm bắt mất, sau đó mới đến của
nả, gia tài…
Nhân có sự giúp đỡ của Ló Càn, Thận vác vợ con vào tận cùng rừng:
- Trang trại trăm đầu trâu, bò, ngựa, lợn… này là vàng Ló Càn đền mạng cả nhà
tao. Hôm Ló Càn đưa tao về bản ấy, rồi bất ngờ bỏ đi ngay. Hai ngày sau quay
lại, trên tay cầm ba quả tim của những tên thổ phỉ giết chết cả nhà tao để cướp
vàng. - Theo thói quen, Thận đưa vạt áo lên lau hai hốc mắt khô hoắm. - Tao với
Lướt không ai bảo ai, chân tự đi thế mà trúng nghĩ. Chỉ có đày mình vào đây thì
con cái sau này mới không biết đến hai từ ăn cắp. Riêng tao thì muốn thực hiện
thay cho mày cái lời thề với tổ tộc, vì như Ló Càn bảo, mày sẽ thất bại. Thay
máu, nhưng không phải cách ấy. Hôm nay mày về rồi thì hãy làm thủy tổ của các
đời sau đi.
- …
Từ
bóng rừng đêm đen rợn, tôi nhìn thấy ánh mắt sòng sọc của ông chủ tịch họ Bạc,
khi ông vừa kịp biết tôi không phải người Kinh, trước lúc tôi và Duyên đăng kí
kết hôn… Tôi vẫn chưa hiểu vì sao mình lại không nhẩy xuống vực nước Quan Tài
như đã quyết tâm… Hay, vì chưa lí giải được về dòng họ ăn cắp - điều mà tới tận
hôm nay, nhờ thằng bạn mù Thận Trọng tôi mới hiểu. Theo nó, có hai thời khắc
khiến “người tốt” cũng đi ăn cắp, đó là được giá và đói kém(?)
***
Giữa
đêm rừng đen như bát thuốc nhuộm, hai con mắt của thằng Thận rực cháy. Nó đứng
dậy đi về phía rừng thiêng - nơi mà mồ mả cha ông nó, và cả cha ông tôi cũng bị
kẻ trộm quật lên để lấy đi những đồng bạc tùy táng.
Tôi tụt xuống thang nhà Thận. Đoạn đường trước mặt, nàng tiên cá đang tung tăng
trong bộ xiêm y nửa thiên cung, nửa thủy tề. Ngọn gió độc thân réo ồi ồi trên
đỉnh Ngại Tắm. Dưới thung lũng Trăm Đầu, Lướt gọi hết tên Thận, rồi lại réo giữ
tên tôi. Giọng Lướt không ướt sũng thường tình, mà quăn hanh như mái nhà gianh
mùa khói nương, chỉ chực bốc cháy.
Chân
sỏi, 16.10.2010
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét