7 tháng 2, 2013

GIA ĐÌNH THỢ MỘC


Truyện ngắn

Cái khung nhà tre tưởng chừng không thể đứng vững trước cơn gió bấc điên cuồng tốc lên từ khe Bứa. Từng vạt lá rừng khô cháy bởi luồng sương muối quét qua, chỉ sau vài đêm đã trút bay tan tác, để lại cả mảng cây hài cốt nỏ nang như một khu rừng chết. Bện xong phên cỏ cuối cùng đưa lên cho cha lợp, tôi chêm lửa bếp. Thế là tối nay không phải ngủ ngoài sương nữa, dù chưa kịp làm sạp, nhưng dẫu sao nằm bệt trong nhà vẫn hơn nằm bệt ngoài trời. Cu Lem đang hì hục vót những chiếc dăm tre, đóng xuống nền đất thành một cái hàng rào, rào quanh chiếc lá khô bị sâu cuộn giống như một cái kén tò vò mà nó bảo là nhà riêng mai sau của nó, thì nghe cha hỏi:
   - Cu Lem xem nhà có dột không?
   - Dạ! Mưa hả cha?
   - Ừ, mưa to lắm.
    Cu Lem ngó nghiêng tiếng rót tồ tồ xuống mái nhà, liền bị mấy “giọt mưa” của cha tỏng vào đầu. Nó lập tức ngã sụn xuống đất, khóc như vừa bị mất cắp tự trọng. Nó bảo nó là con nhặt, cha khinh nó nên mới đái vào đầu nó, nó mà ngu đi, nó sẽ hút thuốc phiện, sẽ uống rượu, đi hoang... (toàn những điều cha dạy nó không nên làm). Nó nói thế là vì mỗi lần nó hờn, cha tôi thường dọa sẽ đem trả cho cha đẻ nó là người dân tộc Xá, nghiện thuốc phiện, làm nghề dọn nhà xí thuê bên kia suối Cáo. Một lần mải gánh phân ra ruộng, ông ta đánh rơi cu Lem, vì sợ chủ cắt cơm nên không dám dừng lại nhặt, cha tôi thương hại đem về nuôi nhưng vẫn hẹn khi nào nó hư thì trả lại. Vậy là nó nín mà không cần phải ai dỗ.
    Cái thằng tự ái cá nhân thật rồi. Trước hôm chuyển nhà sang đây, nó van vỉ cả đêm, vừa mới được mon men vào ngưỡng cửa lớp mẫu giáo thôn thì cha chuyển nhà cái độp, làm nó khóc bỏ ăn bỏ ngủ. Chẳng cần thang, cha co chân nhảy tọt một cái xuống đất, nhấc thốc cu Lem lên vai, phi ngựa một vòng quanh sân, vừa “hí” vang trời, vừa thưa nó là Lã Bố. Thường thì những lần khóc vạ không nước mắt, chỉ cần cha làm thế là nó đổi cười. Nhưng hôm nay không hiểu sao nó khóc như bị nhéo đít. Thấy nó cạu thật, cha cười váng núi, rồi nhể nhể về phía tôi. Đang mải cạo mấy củ sắn, lúc theo cha rẽ qua nhà ông trưởng xóm ký hợp đồng đóng cái giường đôi để ông bắt con dâu, bà trưởng xóm vừa dỡ ngoài vườn, cho mấy củ bảo đem về làm bữa tối. Chẳng hiểu ý cha thế nào, tôi cũng cứ hùa theo gật gật. Cha tôi quay lại bảo nó:
   - Thấy chưa, chị cả đồng ý mai cho cu Lem đi học lớp vỡ bọng cứt rồi đấy.
    Cu Lem biết thừa, bảo cả hai cạ nhau lừa nó. Nó bảo muốn nó nín, cha tôi phải ném nó qua mái nhà. Để nó ngã, nó sẽ chết. “Thật đấy!”. Nó dọa trong tiếng nấc. Mặt cha tỉnh queo, hai tay khóa vào bụng cu Lem, lấy đà lẳng mạnh một cái. Tiếng hét của cu Lem chưa kịp tròn, đã vọt sang bên kia mái nhà. Cha tôi chạy vụt ra mái sau. Tiếng cha và cu Lem cười sằng sặc, dội hút vào khe núi...    
    Cu Lem quay lại chơi với ngôi nhà hy vọng do chính hai bàn tay nó tạo nên, với sự giúp đỡ của con sâu kèn. Còn cha bỗng dưng ngồi đừ ra, hết nhìn tôi, nhìn cu Lem, nhìn cái nhà rồi thở dài như dẫm phải dớt ốc. Chiếc điếu cày làm vội bằng ngọn tre tươi, thở ra những đám khói màu bọt phổi, lang thang trên mảnh sân còn nguyên những bụi cỏ mần trầu già, mọc gồ ghề chưa được giẫy dọn. Tôi bất giác thấy sợi buồn từ mắt cha thọc thẳng vào trái tim non nớt, vừa mới kịp dậy thì của tôi, mà như tất cả những người đàn bà ngoa ngoắt vẫn chê dại và ví von: “Dại cho giai nó thích”. Với tôi lúc này, thà thế còn thấy xung quanh mình đu đủ. Từ cái tát nẩy lửa của đám con trai vô giáo dục, đến những giọt mồ hôi gần như không bao giờ ráo cạn để có được ngày hai bữa cơm, mà vẫn không ngớt bị xỉa xả... 
     
***

    Tiếng ru tuổi thơ tôi ngọt chìm trong khúc tấu dài tưởng chừng không bao giờ cạn, đó là những tiếng ngáy đã bị rơi bớt một phần ô xy trên con đường mưu sinh của mẹ. Và thế là tôi yên chí ngủ từ lúc lọt lòng cho đến khi biết phân biệt thế nào là hát và thế nào là nói. Lớn thêm chút nữa, câu chuyện cổ tích hằng đêm mẹ kể cho nghe chính là chuyện của cha và mẹ. Mẹ bảo năm mẹ lên sáu, ông bà ngoại lỡ để lửa nuốt trọn nhà mình rồi nuốt luôn mười một ngôi nhà trong làng. Bà ngoại sợ quá trẫm sông tự vẫn. Ông ngoại ở lại bóp bụng quanh năm làm nhà trả nợ. Năm mẹ lên chín ông ngoại mới đền được hai nếp nhà. Năm mẹ mười ba, vẫn còn năm nhà nữa đến bắt vạ trong sự voi vóp của đôi tay già nua và những quãng đứt của hai dòng nước mắt con trẻ.
    Vào một buổi chiều, ông và mẹ đang lợp những tấm gianh đầu tiên lên ngôi nhà thứ bảy thì thấy cha ba lô lộn ngược lủng lỉnh bước vào làng. Cha mon men xin ông ngoại việc làm, ông ngoại không nói không rằng chỉ khóc. Mẹ cũng khóc. Thấy thế, cha quẳng túi đời của cha xuống đất (mẹ bảo thế, nhìn bộ dạng cha lúc ấy, cỡ ngoài hai mươi, mẹ đoán chắc kỷ niệm cũng túi ấy mà tương lai rồi cũng sẽ túi ấy. Tôi thì cho rằng chắc chắn phải có tôi rồi mẹ mới nghĩ được thế, nếu không mẹ đâu có lấy cha). Cha nhảy tót lên mái nhà, đúng là nhanh nhẹn (mẹ khen) hai tay ba việc chỉ một loáng là xong. Hôm sau. Hôm sau nữa. Cha giúp ông ngoại thưng vách, làm cửa, bó nền. Trưa ăn cơm nhà chủ. Tối về húp canh khoai môn, uống rượu cất lại từ chum bã sắn của bà cả Phái, mẹ bảo chua loét. Thế mà chuyện đời, chuyện nghề, chuyện đàn bà... thôi thì nhặt nhạnh thập cẩm từ đâu đó mười phương về, nổ râm ran dưới gốc bòng nhà ngoại. Mẹ ngồi gà gật trông chừng hâm lại canh cho ngoại và khách. Đêm nào cũng khuya ngơ khuya ngắt hai ông phó mộc mới chịu hạ màn.
    Từ ngày có cha, ông ngoại bỗng nhiên mất hẳn nét cười thiểu não và cái già tưởng chừng như mỗi mình ngoại biết già. Năm ấy, vừa lên rừng lôi gỗ, vừa tranh thủ đục đẽo, lại được các gia chủ thương hại cho ăn uống thêm cặp, ông ngoại và cha đền liền được hai nhà nữa. Gần tết chẳng có xu nào cho cha về quê, ông ngoại nằng nặc giữ cha ở lại với lời hứa năm sau dạy nghề, dẫn mối cho cha ăn nên làm ra bằng năm bằng mười năm cũ. Trong cơn men, cha gọi ngoại bằng thầy và bảo:
   - Con có nhà đâu mà về, cũng có hom đâu mà cần tiền! Thầy cứ coi con là con đã kể như của ăn của để kiếp thằng tân thợ mộc này rồi.
    Ông ngoại như chỉ chờ có thế là văng ngay ra một tràng, không mấy sâu sắc:
   - Ừ, thầy cứ gọi là cho không cái chức làm con của anh, cho không cái nhà, cây bòng, chai rượu và con em mày nữa (ông ngoại chỉ vào mẹ). Năm sau đền nốt hộ thầy hai nhà rồi thầy con mình tự làm tự ăn, chẳng cho bố con ai một cắc nào sất!
    Tưởng chuyện ngáo ộp của những người say, ai ngờ sớm hôm sau, ông ngoại lôi cha và mẹ đi bộ gần mười cây số lên xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Suốt dọc đường đi, lúc cha mang hộ cái túi, khi đỡ mẹ nhảy qua khe nước, mẹ bảo mẹ thấy hơi bất ngờ nhưng trong lòng phẳng lắm, chẳng ngại chút nào. Mãi đến khi ngồi trước mặt anh cán bộ tư pháp xã, nhìn mục hộ khẩu thường trú của cha bỏ trống, mẹ mới thấy mắt như rắc ớt. Anh cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn cho cha và mẹ ngần ngừ định không ký, ông ngoại chỉ phắt tay vào mặt anh lớn tiếng:
   - Anh cứ ký đi. Đúng, sai, khổ, sướng tôi chịu. Anh làm quan là vì dân, mà cha con tôi là dân nên anh hãy vì cha con tôi đi. Chữ ký có làm anh nghèo hay ốm đau đâu... Ừ, thế nhé, tôi xin!
    Xong, ngoại quay lại hất hàm:
   - Về!
    Tối đó, khi mà mẹ chợt tỉnh trước cuộc hôn nhân sét đánh ấy, thì ngoại đã đẩy cha tôi vào buồng của mẹ. Kết quả của cú chạy trốn sự rõ ràng là gần một năm sau mẹ đẻ tôi. Ngoại và cha đã đền làng nhà mới cả rồi nên không ai làm nhà nữa. Nghề nghiệp lại bắt cha phải cắp tràng đục đi, có khi ba tháng mới gánh về chục cân gạo, vài con gà và mấy trăm đồng bỏ ống. Năm tôi lên ba tuổi, chẵn niên cha về được hai lần, giáp hạt và tết.
    Một đêm, tôi quáng quàng chạy trốn giấc mơ truy đuổi, và chợt gặp tiếng thút thít của mẹ. Cha mới về thăm nhà, đang ngồi hút thuốc lào ở gian ngoài, vừa thả ra đám khói hăng hắc vừa vóng vót vào buồng.
   - Hay là cả nhà ta bốc đi cho có ngày có tối?
    Cha làm như mình là cơn gió không bằng, càng đi càng no, càng bay càng mạnh. Tôi vừa mơ thấy cơn gió ấy, nó gầm gào nhưng vô sản. Chẳng có thứ gì nó không bẻ gãy, nhưng với nó thì mong manh như giấc mơ thôi. Thích thì còn, không thích thì mất. 
    Mẹ tôi chẳng nói chẳng rằng, mà khóc to hơn. Cha thủng thỉnh:
   - Bu mình không nghe sau này tội lỗi gì cũng là của bu mình. Tôi đã tốt, hết sức tốt. Tôi đã giữ, hết sức giữ. Nhưng đời mấy khi chiều người...
   - Anh cứ đi, hai mẹ con đây muốn ôm giữ hương hỏa.
Nghe cha mẹ nói chuyện tôi biết, bên ấy dễ làm ăn lắm, nhưng nghề cha lúc mới đến thì đâu chẳng dễ, đến khi người ta đóng đủ rồi mới đói. Ở nhà với mẹ con tôi được dăm bữa, cha lại đi. Thửa ruộng nhà tôi rặt dấu chân đàn bà và con trẻ. Vài ba gã đàn ông mồm lấm hơn gót, thi thoảng đi qua vẫn quăng vào tai mẹ tôi những lời chẳng rửa ráy bao giờ. Mỗi lúc như thế, mẹ tôi thường cất đi cái dịu dàng và những nết na vốn có, mà cố rặn ra một lô xà beng, dao búa. Mẹ nói năng như ném đá, và tôi thấy thanh bình sau những sắt thép ấy của mẹ. Tôi thường nhổ cái lưỡi dài vào gáy đám đàn ông ma trơi ấy. Mỗi khi đuổi được lũ mặt cày mặt cuốc đi rồi, mẹ bắt đầu khóc. Tôi không hiểu. Chỉ thấy một ngày dài như bị úp nón. Đến khi nào mẹ nhắc tên cha, chiếc nón mới được cởi ra.
    Rồi cũng đến ngày ông ngoại tôi ốm nặng. Là trẻ con nhưng tôi biết ông không thể qua khỏi. Chai rượu cả tuần không vơi. Chiếc gậy cô đơn và mốc thếch dưới gầm giường. Nhắn mãi chẳng thấy cha về, theo con đường buôn thuốc gánh, mẹ gửi gắm ngoại và tôi cho một cô bạn hàng xóm rồi đi tìm cha. Dăm hôm sau, mẹ vác đôi mắt sưng mọng quay về. Không có tiền, không có gạo, ông ngoại ra đi trong cái chăn cáu sờn vẫn đắp. Mẹ đẽo vỏ cây đinh thơm đốt tạ thay hương. Tôi và mẹ tiễn ngoại đi bằng những giọt nước mắt gầy còm, chưa kịp chắt tiết sau những đêm dài thao tháo. Nhà tôi trở thành thế giới của những tượng người. Mẹ không nói, tôi sợ mẹ im luôn. Chỉ còn vài cọng gió léo nhéo trên ngọn rặng tre làng là chẳng biết buồn hay vui. Nắng thì như ném lửa xuống lưng người. Lúa cháy, mùa mất, đàn vịt cỏ kêu đến nỗi những con niềng niễng ngủ kỹ trong bùn cũng phải lồng ra, nộp mạng.
    Gần trăm ngày ông ngoại mới thấy cha về. Cha vẫn chưa biết ông mất nên gánh gồng rất nhiều thứ: măng khô, mộc nhĩ, mật ong, gạo nếp tan, bạc trắng và một tổ ong đất để biếu ông ngâm rượu chữa khớp. Nghe mẹ nói áo quan ông bằng chăn, cha gào rống lên một hồi rồi cầm nắm bạc chạy sang làng bên, tha về một cỗ quan tài bằng gỗ trậm (hồi nghe lỏm chuyện gốc bòng, tôi biết gỗ trậm rất được chuộng làm áo quan, vì gần như không mục). Cha giục mẹ thịt con gà trống cha mới mang về. Đồ xôi bằng gạo nếp tan. Ngâm rượu ong đất. Xong, cha lẳng lặng kéo chiếc xe cải tiến chở tấm áo quan đi trước, tôi và mẹ ôm lễ theo sau. Ra tới nơi, cha đặt tất cả lên mộ ông, thức thưởi khấn:
   - Miếng cơm thời buổi này chẳng khác gì cướp giật. Thầy thương con về ăn xắt gà, nắm cơm nếp, uống hớp rượu nọc ong cho khỏi đau lưng, rồi con sửa áo... thầy ơi...   
    Đợi hết tuần nhang, cha quay lại bảo mẹ và tôi về trước. Một mình cha tất bật đào ngoại lên, đặt ngoại nằm ngay ngắn vào trong quan mới, rồi lại chôn ngoại xuống. Lạy ngoại ba lạy xong, cha về ngang qua con sông con cuối làng, nhẩy tùm xuống tắm rồi uống hết chai rượu cúng. Lúc tôi và mẹ tìm đến nơi, cha đã nằm rũ như chiếc lá úa bên ghềnh nước. Mẹ và tôi hì hục khiêng cha lên xe cải tiến, kéo về. Quẳng cha lên giường, mẹ bỏ ra hiên ngồi thùi thụt. Còn tôi, lâu lắm mới có dịp ngắm cha ngủ ngoan như tôi lúc chưa biết thế nào là nói và thế nào là hát.
   
***
   
Đêm ấy, tôi lại nghe thấy cha bảo mẹ bỏ làng theo cha, nhưng mẹ không chịu. Có lẽ hạnh phúc ông ngoại gói ghém cho cha và mẹ chỉ đến đấy. Cha đi rồi, mẹ cũng gửi tôi cho hàng xóm rồi theo người làng đi buôn thuốc bắc. Tôi khóc thảm thiết. Cha tôi thi thoảng cũng về, và chẳng lần nào gặp mẹ. Cha bảo đón tôi đi, nhưng tôi sợ mất mẹ hơn mất cha. Có lẽ vì tôi đã quen xa cha từ lúc lọt lòng, và cũng quen mắm môi chờ sự âu yếm của mẹ, dù chỉ là tết lọn tóc. Thời gian đầu, mươi ngày mẹ đã về. Tôi thường ôm mẹ thật chặt, nhưng lần nào mẹ cũng đi mất từ khi tôi còn đang chìm trong giấc mơ sum họp.
    Căn nhà không có cha, không có mẹ sương dột nhiều hơn. Tôi ít biết điều đó bởi mỗi lần đi ngủ, tôi thường thích mơ. Ngoại và cha hiện về ngồi kể chuyện đàn bà dưới gốc bòng. Mẹ cần mẫn vá lại những chiếc quần mòn đũng... (cái khoảnh khắc hạnh phúc nhất của gia đình tôi mà tôi lại chưa một lần được hưởng). Tối tối, tôi nhìn ra con ngõ trống hoác khóc không ai dỗ nổi. Chị hàng xóm được mẹ tôi nhờ sang ngủ, tối nào bị anh bạn kéo đi đến nửa đêm thì thôi, còn thường thì vừa lên đèn đã nằm quay ra ngủ như chết. Tôi đợi mẹ chỉ với một đức tin duy nhất là để mách mẹ tất cả những gì mà tôi phải chịu đựng. Từ cơn đói như bị trâu húc vào bụng, đến chuyện bị gọi là con rơi, chuyện những đêm ngồi khóc ưng ức trong bóng tối chờ chị hàng xóm... Cả chuyện mẹ thất hứa để tôi lặn lội ra suối nhặt những viên cuội xếp vào góc nhà đếm ngày mẹ về...(!)
    Chuyện xảy ra thường xuyên quá, khiến lòng trẻ và đức tin trong tôi đã hóa thành sỏi đá. Tôi không khóc đêm. Không nhặt sỏi xếp vào góc nhà đánh dấu ngày mẹ đi nữa. Tôi đấm lại bất kỳ đứa nào dám gọi tôi là con rơi. Tôi không thèm giãn da mặt khi bị bọn lớn bắt tựa lưng vào gốc cây, tát nổ đom đóm mắt. Sự xúc động yếu hèn bị tôi đẩy cả xuống đôi bàn tay đang run lên bần bật. Tôi thua những ngón đòn bắt nạt rẻ rúm, nhưng lại chiến thắng chúng nhờ lòng sắt đá trơ lì. Với tôi, làm gì có nỗi đau nào đau hơn vết mẹ và cha đang xé.
    Dần mẹ về ít hơn cả cha. Cuộc sống khiến mẹ không còn cồn cào khi tôi phải ở nhà một mình nữa. Nhưng rồi cuối cùng mẹ cũng về đón tôi đi. Tôi không buồn, mà cũng chẳng vui. Mẹ bảo: “Cho bớt khổ”. Ừ thì cho bớt khổ. Chẳng có ai để mà chia tay. Chị hàng xóm thì tiếc rẻ vì không có tôi, chị không được thoải mái đi chơi với bạn trai, thậm chí còn hẹn anh đến ngủ với chị tại nhà tôi, còn tôi bị chị đẩy ra giường ngoài - cái giường mà ông ngoại tôi đã ra đi trong cơn đau quằn quại. Tôi lếch thếch đi bộ theo mẹ suốt hai ngày đường, chuyển đến hai lần xe thì tới một thị trấn nhỏ, nhưng sầm uất và rất nhiều hàng hóa. Tôi ngơ ngác trước rất nhiều người dân tộc lạ. Mẹ bảo đấy là người Tàu ở cửa khẩu Việt - Trung. Mẹ đã có em gái năm tháng tuổi với một người đàn ông Quan Hỏa. Da thịt cô bé còn nũn nhều, rất dễ thương. Nhất là cặp mắt Tàu, nhìn như trong ấy có cả cái già nua của ông ngoại, câu chuyện cổ tích của mẹ, cha và số phận đụn đẹt của tôi. Mặc dù rất yêu quí em gái nhưng tôi vẫn cảm thấy bị xúc phạm, bị rẻ rúm và thừa thãi. Chẳng có cách nào, chỉ còn cách chấp nhận bố dượng, và coi ông như ân nhân, cứu cánh cho chuỗi ngày không cười, không khóc.
    Tôi chỉ phải trông em và nấu cơm. Bên kia con hẻm chợ, trước nhà dượng là một gia trang lợp ngói âm dương lụp xụp. Cả ngày lẫn đêm, trong ấy vọng ra những chuỗi rên rỉ, quằn quại. Xen kẽ giữa hơi thở thô tháp của cánh đàn ông, là những tiếng rú và những tràng cười chói tai, hoang dã như của loài linh trưởng của đám đàn bà rẻ tiền. Đôi khi cũng có cả những tiếng đập phá đồ đạc, tiếng tát, tiếng đấm đá và tiếng chửi bới tục tĩu:
   - Tiên sư mày, thế mà cũng bảo mới à?
   - Cũ người mới anh, với lại anh vẫn đê mê cơ mà...
    Bốp, bốp!
   - Đồ lợn sề chó cái!
   - Sao anh lại đánh em?
   - Bị đánh mà có tiền, có đáng được đánh không?
   - Dạ! Đáng! Đáng!
    Ngay khi cánh cửa phòng đổ ra đường một gã đàn ông rệu rã, ả đàn bà hở hang và bất chấp đã lại thoen thoét nói cười, dang cánh tay đầy ắp vú đón chặn tất cả những người đàn ông ngang qua, với lời lẽ chỉ có ở cõi người dơi: “Anh ơi, vào đóng gạch đi”; “Nhìn em ngon thế này, anh không thấy xúc động sao?”; “Hôm nay em đen quá, anh vào em chiều tĩ tã, chỉ xin anh đủ mua lọ thuốc thắt bớt cái của em vào thôi”;...
    Những thứ âm thanh ô nhiễm có tần suất đại pháo cứ như thể đã nằm sẵn trong tai tôi. Tôi thấy sợ khi ở cạnh cái công trường xác thịt này mà không biết phải làm gì. Mẹ tôi dường như quen rồi nên chẳng bao giờ đọc được cảm xúc phát lộ trên mặt. Bây giờ thì tôi không còn thích thú ngắm đứa em gái như khi mới đến nữa. Nó gắt gỏng và trở nết hơn cả bà Độc già quê ngoại. Tôi sợ cái món ăn bằng tai không lấy gì làm vệ sinh mà nó bị hấp thụ ngay từ lúc lọt lòng. Ai dám đảm bảo cả tôi và nó, nếu cứ ở đây, một ngày nào đấy không trợn trạo, trơ tráo đến phát nôn như ở bên kia? Trong ánh mắt nó còn có thêm cái nhìn của ông bố dượng và đám đàn ông thường lui tới dãy nhà lợp ngói âm dương. Mặc dù tôi đã ý thức hết cỡ, cùm kẹp hết cỡ cái sự phốt phát non tơ, mũm mĩm nổi nét trên nền da trắng nõn (vốn là của mẹ); nhưng có lẽ cái tơ hớ tuổi teen vẫn bùng lên trong lớp áo ngực, và chiếc mông quần may chẽn. Một ngày, mẹ tôi địu em vào nội địa Trung Quốc móc hàng, ông bố dượng gọi ba, bốn gã đàn ông cả ta cả Tàu, đầu cạo trọc, đeo kính đen, đi giầy khủng bố, ăn vận toàn đồ “ngố”, cưỡi xe hai ống xả đã lóc hết sơn, thả ra thứ tiếng nổ làm rung chuyển cả thị trấn. Ông bố dượng đưa ra năm ngón tay, gã thổ phỉ giơ ba ngón. Ông bố dượng khăng khăng năm ngón tay, gã kia vẫn ba. Đám đàn ông lượn quanh tôi, nháy mắt rồi bỏ ra xe, nổ máy rồ đi. Một gã ngồi sau còn huơ về phía tôi bốn ngón tay thô gộc như bốn chiếc vuốt thú...
   

***

    Cha cũng làm mộc ở gần cửa khẩu ấy. Cái nơi mẹ tôi khăn gói tìm cha dạo ông ngoại ốm, cha đã bỏ đi thêm ba, bốn chốn nữa rồi. Hồi ấy mẹ sang không gặp cha, chỉ thấy người đàn bà ôm một đứa con trai bụ bẫm quanh quẩn trong hai gian nhà tranh, giống y như những ngày mẹ sinh tôi, còn cha thì đi tìm sự sống của cả nhà ở cuối trời xa vòi vọi. Theo lời cha, chuyện bắt đầu từ khi ông mo cứu cha thoát khỏi cái chết do rắn hổ cắn. Cha liền về làm con nuôi để cung phụng ông lúc cuối đời. Rồi mọi chuyện diễn ra na ná như chuyện của cha và mẹ. Nếu kể theo thứ bậc thì tôi là cả (mà tôi có thực sự là cả không, tôi cũng không biết nữa?), em trai ấy là thứ hai, cô em gái lai Tàu là út. Ngày mẹ sang đây chung sống với ông người Tàu cha cũng biết, nhưng cha tránh gặp. Hôm mẹ đưa tôi đi cha đứng bên vệ đường nhìn theo vì sợ chạm cái nhìn lành nhưng lạnh và dường như chứa đầy căm phẫn. Cha sợ cả những giọt nước mắt chứa chất hình ảnh và sự phó thác của ông ngoại tôi. Cha bắn tiếng với một người hàng xóm của mẹ:
   - Nếu nói đến thứ gì đểu giả, tráo trở, đê tiện và điêu toa nhất trên cõi đời này thì đó là bọn đàn ông. Chúng có thể ngồi ở ngã ba đường, đếm từng người đàn bà qua lại và thao thao rằng đã được ngủ với tất cả. Trong hành trình tồn tại của mình, chỉ cần người đàn bà nào cho bọn ấy một cơ hội chào hỏi là y như rằng, nó vác đi khắp thiên hạ mà giễu là mới chỉ ho một tiếng con ấy đã chết lăn chết lóc, bám riết lấy nó để tìm cơ hội dâng lên tất tật mọi thứ. Thực tế thì, cả đời bọn ấy thậm chí còn không có được cái diễm phúc bị đàn bà nhổ nước bọt vào mặt. Đàn bà thường chết vì cả tưởng.
Bà kia tròn mắt kinh ngạc:
   - Nhà bác sao thế? Bác đang đập vào mặt bác đấy à?
Cha tôi rầu rầu:
   - Vâng, bá ạ. Đàn ông nên thấy kĩ bụng đàn ông. Tôi nhờ bá nói lại với Hạnh bấy nhiêu gan ruột. Đừng để bọn chó ấy cái xương không có nhưng lại tán thưởng nhau là vừa được ăn miếng thịt trên bàn thờ.
Còn với tôi, cha lại bảo:
   - Đàn bà phải học cách đểu cáng của bọn đàn ông để thế giới này bình hòa. Kiếp sau tao thà là cái giống nửa cái nửa đực…
   
***

Sau cái ngày ông bố dượng có ý định bán tôi, tôi theo cha men vào con đường rừng lởm chởm đá tai mèo, ở cuối con đường đó cũng có một ngôi nhà hai gian (thú thực tôi không biết trong suốt quãng đời mình, cha đã làm bao nhiêu ngôi nhà hai gian như thế. Một cu em đang đằm đất với mấy đứa trẻ xóm. Tôi bế thốc đứa em trai hơn bốn tuổi, chưa một lần gặp mặt, rồi đưa ánh mắt tò mò nhìn cha mà không dám hỏi. Cha đẩy cánh cửa bằng tre, không có khóa, mọt ăn óp ép sang một bên, dắt tôi vào ngồi xuống chiếc sạp trải một hàng đệm đen đúa, cáu mủn. Với bàn tay thô tháp xoa lên đầu cu Lem, cha gượng gạo lên tiếng:
   - Cu Lem chào chị cả đi!
   - Chào chị! Bằng giọng nói lơ lớ của một người dân tộc cố học nói tiếng phổ thông, cu Lem ngoan ngoãn chào tôi, nhưng vẫn nhìn lạ lẫm.
   
Sai lầm của cha là đã không nhờ các bậc cao niên đặt tên cho con nên ngay sau khi ông mo chết, cha phải làm lều, đưa dì “ra nhà” và bị coi như người ngoài họ. Từ đó, những người nhà dì liên tục đến bắt dì đi cúng ma, làm “lý”... Lần nào dì cũng vác về một bộ mặt và tấm thân no mọng máu, bởi những đòn roi trừ ma, tiễu quỷ. Cha xuýt xoa, dì thì im lặng. Im lặng cả khi yêu cha và cho cu Lem bú. Cuộc sống như bản án nặng trĩu, trôi đi trong cơn hoang mang, lo lắng. Cha sợ cu Lem cũng bị bắt đi làm mồi nhử ma, rồi bị trói, bị đánh, bị dìm xuống nước, bị nướng trên lửa...
    Đến một ngày, con ma không nhất trí để dì sống với cha nữa, dì bị người nhà lôi đi trước sự bất lực của cha và nỗi tuyệt vọng của cu Lem. Cha bế cu Lem ngằn ngặt nhìn theo bóng dì cho đến khi mặt trời rơi xuống dãy núi phía đầu nguồn con suối Thẻ, mà lòng như đang chảy máu. Ngày ngày, cha ôm cu Lem sài đẹn ngặt nghẽo ra đứng vớt vát về phía xa xăm, nơi có những áng sương mù, phủ một lớp mờ ảo, vô vọng lên vạn vật. Ở phía ấy, có người nói cho cha biết dì ốm nặng lắm, nhưng đã là người dưng rồi nên cha không có lý gì đến thăm dì được. Cha chỉ còn biết gói một khoản tiền vào tấm vải mộc hồi còn con gái dì tự tay dệt, sau này may áo cho cha, rồi nhờ người cầm sang cho dì. Không lâu sau, chính người bạn được cha gửi gắm trách nhiệm của cha đi ấy, hộc tốc quay lại báo tin, bên đó đã cử một đoàn người mang giáo mác, gậy gộc sang bắt cha và cu Lem về, giết lấy máu làm lễ tế ma để cứu dì. Vậy là cha gánh một bên đồ nghề, một bên cu Lem, vượt núi, lội khe chạy miết cả ngày đường không nghỉ. Cuối cùng cũng đến được một cụm dăm nhà dân làm tạm bợ vào lưng chừng rừng, giống như một cơ sở hai dùng để chăn nuôi, cấy cầy. Sau này mới biết, xóm ấy gồm những người khác họ, do không giành được quyền sinh sống bình đẳng với một họ lớn khác, phải bỏ bản đến đây khai khẩn sinh nhai. Gặp được cha họ cho rằng duyên kiếp trời xui nên quí lắm và coi cha như người trong họ. Cha ở lại đó làm nương rẫy, đốn cây xẻ gỗ và giúp họ làm những ngôi nhà to, kiên cố thay cho những túp lều bán niên một dựng.
    Một bữa, cha được vời đi đóng cho tộc trưởng một chiếc tủ tường để tộc trưởng đón con dâu. Anh con trai tộc trưởng đã có một đời vợ và bốn đứa con. Vợ anh bị băng huyết chết được dăm tháng. Nhà không có người làm, anh phải đi tìm vợ mới để chăm sóc bố mẹ già và nuôi đàn con dại. Cha và cu Lem đến và  được sắp xếp cho hẳn một gian ở chái của ngôi nhà sàn dài gần bằng một tiếng hú. Hôm khánh thành tủ, cũng là hôm anh con trai nhà chủ dẫn người yêu về ra mắt bố mẹ. Đang lúi húi chơi những mẩu gỗ vụn hình đầu xe, cu Lem bị một người lạ quáng gà do bước ngoài nắng vào vấp phải. Trong khi ngã sõng soài ra đất, nó chợt nhận ra dì và gào hắt lên. Cha đang làm gần đó lao đến, không để cho cả nó và dì biểu lộ thêm một phản ứng nào, một tay bịt miệng, một tay bế thốc cu Lem lên, mặc cho nó khóc òng ọc trong cuống họng, cha cắm cổ chạy về phía núi. Đợi già hai hôm, khi mà con trai ông tộc trưởng đưa dì về bên kia rồi, cha mới quay lại thanh lí hợp đồng, tiện thể hủy luôn hai bản hợp đồng mới ký với các gia đình quanh đó, rồi gánh cu Lem băng qua bốn năm thôn vùng cao khác. Mất mẹ, cu Lem hằng ngày theo cha đi làm như một phó nhỏ. Nó phải lớn trước tuổi. Nhìn nó, cha bảo thể nào nó cũng hơn cha. Cha không muốn nó bằng cha, vì như thế là kết xấu...

***
Ngày tôi về, cha đã là một con sâu rượu chúa. Sáng ra, bao giờ cha cũng uống cạn một ca nửa lít rượu sắn rồi mới xách tràng đục đi. Trưa ăn cơm ở nhà chủ, tối về khi thì mang nắm xôi nướng, khi thì vài miếng mỡ luộc, nhìn đã thấy trắng ởn cả dạ dày. Hôm nào không có thức ăn (mà thường là chỉ có rau rừng và muối trắng), cha bảo cu Lem hát liên khúc nhạc vàng, nhạc đỏ, thậm chí cả nhạc tự biên của nó và múa võ cào cào, võ vật chó... để cha nhắm rượu. Ngọn đèn dầu được cha tự chế từ vỏ lọ toa, thường tàn đi sau mỗi bữa rượu tối ngồi nhâm nhi nhắm nhạc của cha. Tôi cười chảy nước mắt, còn cu Lem thì lăn ra ngủ sau một trận chiến cực nhọc. Bữa ấy, tôi đi làm nương thuê về muộn, trong nhà tiếng cha như đeo đá vào lưỡi:
   - Thằng mất dạy, mày chống lại tao à?
    Tiếng cu Lem chều lên từng cơn yếu ớt:
   - Con sốt mà cha.
   - Sốt cũng phải hát!
    Tôi chạy xộc vào nhà:
   - Để con hát thay em.
   - Tao không nuốt nổi cái giọng chó hóc của mày.
   - Thì con diễn trò.
   - Mày có trồng chuối ngược được như mấy thằng cao đạo không? Chúng nó trồng ngọn chuối xuống mà vẫn trổ buồng đấy. Thời buổi của những sự ngược đời. Phàm cái gì xuôi thuận đều chết đứng cả.
    Nói đoạn, cha bỏ ra ngoài nhắm rượu với gió. Ngọn gió rừng reo như xả nỗi ê chề vào không trung. Gió reo, suối cũng reo. Chỉ có lòng tôi là nặng trĩu như đá hộc. Ước gì được lăn một trận, đi đâu thì đi, rồi thôi không làm đá mà cũng chẳng làm người…

***

    Vài tối cha lại dẫn về, khi là mấy cán bộ xóm, cán bộ xã… rồi bảo tôi chạy thức ăn, đãi đằng trong điều kiện âm thủng túi. Hết tốp nọ đi, tốp kia lại tới. Đằng đẵng suốt năm này sang năm khác. Mỗi lần một cuộc say ba ngày. Cha nâng niu những mối quan hệ đơn chiều ấy, vì chỉ có cha bị mời chứ chẳng bao giờ được mời. Mãi khi chuyển sang xóm Bứa này tôi mới hiểu. Bên cạnh món rượu… tự sướng (cha hay nói thế) còn có rượu cho thường trú, rượu tìm việc, rượu an ninh, rượu hành nghề, thậm chí cả rượu cho cu Lem chơi và rượu để tôi yên… Nhiều khi cha không có nhà, hai ba ông khách tới giới thiệu là cha nuôI của cha đến thăm con; là anh kết nghĩa của cha đến thăm em; là em nuôI của cha đến tìm anh có việc… Họ báo cơm, báo rượu rồi tự chúc, tự say, rồi vô tư ngủ lại… (tôi không thích, nhưng biết phải có lý do thì mới có những cuộc tìm cha ăn vạ như thế). Lúc tỉnh họ ngọt ngào gọi tôi là cháu nội, là con... lúc say họ xưng anh với tôi như bằng vai phải lứa. Họ nháy mắt, họ ra những ký hiệu kỳ lạ. Lúc ấy, tôi ôm cu Lem cầu mong cho cha sớm gọi cửa bằng cái cách riêng của ông, là đập cả thân mình xô xiêu vào liếp nứa...
Mỗi lần nhập thổ là cha lại phải làm không công tới hàng chục công trình cho các vị chức sắc địa phương, mới hòng được thường cư an nghiệp. Sau khi đã đóng hết đồ chức sắc rồi, đến thường dân mới được gọi là làm công ăn công. Trước đây, cha thường đến tận nhà chủ đóng để kiếm bữa cơm nuôi mà các tốp thợ tiên phong đã cố tình để lại “luật”. Người dân tộc họ rất thích sự rõ ràng. Cơm nuôi cho thợ được qui định ngay trong hợp đồng là ngày ba bữa, hai thịt một tiết canh. Để có tiết canh buộc chủ nhà phải giết một con gì đó. Thường thì cánh thợ nào cũng làm mau mải cho xong để đi nhận công trình khác. Cha tôi chẳng giống ai. Ông thường mất gấp đôi thời gian, chỉ là để được uống rượu. Mỗi khi nhà hết tiền, ông thường tha tôi và cu Lem theo với danh nghệ thợ đè, thợ vịn. Để gia chủ khỏi sốt ruột, cha luôn miệng sai chị em tôi chạy như con thoi. Khi thì đè cho cái ván, lúc vịn hộ bộ khung, hay làm những cái chốt tre, những con kê mà chẳng dùng vào việc gì cả. Miễn là chủ nhà thấy chị em tôi quan trọng!
Nhưng rồi cha bỗng không lấy ăn uống làm chuẩn nữa, mà giao kết: “Nhận gỗ, trả đồ tại xưởng!”. Tôi lo lắng hỏi, cha bảo đã có cách: “Sẽ lãi gấp 5 - 7 lần so với tiền công, cơm ăn và rượu uống trước kia”. Vậy là từ đó, cứ hễ cha tôi nhận được một cái giường thì ông cũng đủ gỗ đóng và bán ra một cái giường khác. Thậm chí, do các bậc cao nhân xã nhà không biết tính toán, ông khai tăng gỗ, đóng một cái còn lãi được hai, ba.
Chẳng biết từ bao giờ, cha trở nên thiếu trung thực. Thậm chí ông còn tự hào và thấy mình phải có trách nhiệm dạy dỗ chị em tôi biết cách thiếu trung thực. Cha cười đắc ý cho cái sự gian dối đớn hèn của mình. Tôi sợ ông. Nhưng tôi cũng sợ đói khổ. Mà phần đa cái đói khổ chỉ ập đến mỗi khi bị trúng phải dối trá, lọc lừa. Chưa bao giờ cha được đối xử tử tế như một người thợ. Hầu hết cha bị coi là ăn mày - một loại ăn mày nghề nghiệp. Nhiều khi cha đóng xong một lô: xa lông, búp-phê, tủ đứng, tủ tường, giường mô-đéc, sập chân quỳ... không sai sót một chi tiết nào trong giao kết hợp đồng, nhưng sướng lên, chủ không nhận đồ và bắt cha phải đền lại gỗ(?) Có khi giao hàng, họ vẽ ra đủ thứ sai, từ qui cách, mẫu mã, thậm chí cả cái màu gỗ khi đánh véc-ni rồi khác với khi còn đang làm sàn chuồng trâu nhà họ... thế là họ chỉ trả nửa, hay một phần tiền công; cắt, phạt tiền ăn... Những chuyện đại loại như thế, xảy đến với cha như ba bữa ăn trong ngày. Cha bảo:
   - Đời khốn nạn thế, thử hỏi trung thực được không?
Mỗi lần tranh luận, ông đều cực đoan vậy. Tôi vẫn biết cha tôi non triết, nhưng cái nhẽ ở đời thì dường như ông có lý ngay từ trong lời nói hằn học và sòng phẳng kia. Vậy là ông quyết định cải tiến phương thức và đạo đức hành nghề. Ông bảo: “Là đời ép cha thôi!” Việc đầu tiên là ông đục một pho tượng đạo chích, rồi đặt lên bàn thờ. Ông thờ thần ăn cắp! Biết ăn cắp thì mới biết vun vén che đậy. Cha bảo tôi, nếu thấy nhục thì đi theo mẹ.
Cha mà không ăn cắp của các vị cao nhân ấy, quả thực cũng chẳng biết lấy gì mà sống. Tại sao người ta lại gọi các vị ấy là cao nhân, tôi không được rõ. Chỉ biết có bận uống rượu tại nhà tôi, tôi thấy các vị phân vai văn hóa: Ông giữ cương vị Đảng học hết cấp 1, theo dở nửa năm đầu cấp hai rồi bỏ học được coi là… cao văn nhất. Ông chính quyền cao văn nhì vì tốt nghiệp cấp 1 xong thì ở nhà chăn trâu. Ông tư pháp xã học xong chương trình lớp 3 phổ thông, cao hơn ông văn phòng học xong lớp 3 bổ túc… Nói chung là các vị ấy đều biết đọc biết viết. Các vị còn khoe, các vị chỉ cần dọa nghỉ là huyện sẽ hoắng cả lên, xe to xe bé vào vận động, động viên, chia sẻ kịp thời cho các vị ổn định chuyện vợ con, chuyện bát cơm cái quần để sơm sớm mà quay lại nhiệm sở. Bọn trẻ bây giờ một trăm phần trăm học hết cấp 3 nhưng xin lỗi, chẳng hơn gì thằng chăn trâu, mù chữ. Còn nếu bàn tới năng lực quản lý thì càng ôi thôi về vấn đề nhân sự.
   - Vậy thì chỉ chúng tớ chứ còn ai. Anh đừng nghĩ mai bầu cử rồi mà lạnh tanh với bọn này nhé?
   - Dạ, em đâu dám, quan bác khéo đùa. 
Cha nhũn như ốc sên gặp muối. Mà nói thật, có phải cha chỉ nai lưng ra nuôi hai chị em tôi không đâu. Cả các ông quan làng, quan xã vẫn ghé thăm nhà. Ngay cả tay kiểm lâm sắc phục tề chỉnh, lăm lăm cái thước và một xấp hóa đơn cũng năng lui tới:
   - Ở cái xứ khỉ ho cò gáy này mà cũng có một đại gia làm ăn phát phất. Anh em tôi bỏ lỏng là có lỗi với Đảng, với nhân dân rồi. Chẳng biết đâu, cũng bởi cái lỗi ấy mà Đảng không tin dùng nữa thì xin cởi trả áo đi theo mánh thợ mộc, may ra mới có bữa cơm bữa cháo cho mẹ con đĩ sề.
    Cha mềm oặt mời hắn vào nhà:
   - Phải tội em chết. Thợ mộc ăn phoi bào chứ nào dám giò khoanh thịt xắt. Đã ba tháng nay, đóng giúp cho mấy bác cai quản địa phương, các cháu đói quá.
    Tay kiểm lâm tức thì đổi giọng:
   - Cái nhà anh này giỏi giá họa. Cán bộ nào lại đi ăn không ăn hổng của dân? Vì anh tha hương nên hợp đồng nào các sếp chả phần anh hậu hĩnh?
    Cha chợt chững lại, rồi lơ lả cười:
   - Gớm! Chẳng có cái gì qua nổi mắt bác quan chủ rừng. Thôi hôm nay gác chức việc lại, ở chơi với nhà em, bác em ta cụng chén ra chuyện.
    Hắn vờ vịt:
   - Tôi bận việc lắm, nhưng nể anh... Mà này, có dễ anh hơn tôi ngoài chục tuổi đấy, hay ta kết nghĩa anh em nhé, tôi xin nghe theo những gì anh chỉ dạy. Từ giờ, cần thằng em này che đậy gì, anh giai cứ bạo miệng sai bảo.
    Cha tôi giãy lên sung sướng:
   - Quí hóa quá! Quan anh..., à chú em mở cửa cho thế, tôi đây xin làm người anh ngoan của chú.
    Tôi hiểu ý chạy ù ra cái quán ăn cổng xã, cắm đĩa thức ăn và chai rượu. Gã chủ quán khăng khăng:
   - Em gái ơi, cho anh xin em ba chữ: Không mua chịu! Cha con em đã cắm vị chi bằng năm tạ lợn hơi rồi đấy, cô em ạ.
    Tôi xoắn lấy gã, van vỉ, gã bảo:
   - Em cho anh hôn một cái, anh cho cắm... cả người?
    Cũng như nhiều lần trước, đến ngang đường, tôi dốc rượu ra tay rửa má. Về đến nhà, cha tôi và tay kiểm lâm đã ngồi xếp bằng trên chiếu. Sợ khách phát hiện ra mùi rượu, cha lôi xuống bếp, lấy gáo nước hắt vào mặt tôi, rồi đay nghiến:
   - Mày không nốc trước thì chết à?
    Gạt nước trên mặt, tôi tươi cười bưng mâm lên. Tay kiểm lâm kéo tôi ngồi lại để vừa nhắm rượu vừa ngắm. Cha tôi khen hắn đắc tửu. Uống rượu với nhan sắc đàn bà thì quả là... cao thủ! Hắn cười rung cặp mắt lồi, trắng dã.
Cái đạo rượu của cha tôi, vẫn như thế, cuối cùng luôn là một món quà, giá trị tùy theo cấp chức. Lần này là biếu trắng một bộ xa lông và một cái tủ chè. Uống rượu ròng rã từ trưa đến chiều, hai lần tôi phải đi vay thêm thức ăn, và hai lần rửa má. Cuối cùng thì tay kiểm lâm cũng say. Trước khi gục xuống sạp tre, hắn còn nhắc:
   - Là anh trai tặng cho cô Đào Thị Huệ (vợ hắn), chứ không phải thằng em đâu nhé. Anh trai nhớ kiếm cho cô ấy bộ khung lát chun. Ván thưng bằng lát da đồng cũng được, nhưng riêng cái mặt bàn và đôi cánh tủ, nhất thiết phải là lát hoa xanh đấy!
    Nằm đến gần tối thì hắn được một người làm ở văn phòng ủy ban xã đến dìu đi. Cha tôi ngồi ôm mặt khóc như một đứa trẻ:
   - Mả mẹ cái bọn thú vật ăn thịt người. Xương con tao đấy, cứt con tao đấy, ăn nốt đi rồi hãy về…
    Tôi đã để ý nhiều, mỗi khi uống rượu với khách, cha thường chỉ ngồi nhâm nhi chén rượu suông và vâng dạ cho đến hết bữa. Sự cam chịu bức nén không chỉ là ý thức mà tự lúc nào trong cha, nó đã biến thành bản tính, thành nghĩa vụ với đời. Cha nhún nhẫn như một con trâu cày thuần thục, còn sức còn kéo, còn thở còn làm.
Hôm sau, cha lôi đâu mấy tấm ván gỗ tạp và một con chó về nhốt vào gầm giường. Tôi thấy cha rọc nhỏ những cái khung gỗ lát chun trong số gỗ ông chủ tịch xã gửi cha tôi đóng trọn bộ: tủ, giường, bàn ghế... ra làm ba phần. Cha lấy một phần, dùng cốn gắn vào mặt ngoài bộ khung gỗ tạp. Sau khi vo ống tơ, tuốt chỉ, chạm long, ly, qui, phụng... trông chẳng ai biết phía sau lớp gỗ đẹp được trau chuốt hình thức cầu kỳ, lại toàn là gỗ tạp, gỗ chất lượng kém. Xảo thuật ấy, sau này cha tôi đặt tên là “thếp vàng”. Tức là làm khung hoàn toàn bằng gỗ kém chất lượng rồi dán lên mặt ngoài một lớp mỏng gỗ quí. Cha tôi ép những tấm ván gỗ rởm vào những chỗ kín không nhìn thấy, vị trí nào phô ra như mặt tiền, hai hồi và đình tủ cha vẫn đóng bằng ván gỗ lát hoa của chủ, nhưng đều được canh mỏng ra làm đôi. Cả những chiếc thang bên trong, cha cũng rọc chéo thành hai cái, một đầu dầy một đầu mỏng, lắp đảo đầu. Cha tôi còn tái sinh những mẩu gỗ ngắn thành những cái khung dài, chắp nối nham nhở, đặt ở vị trí khuất. Mỗi chiếc tủ hay bộ bàn ghế cha tôi ăn cắp được hai phần ba gỗ. Tất cả đều đem bọc nilon rồi chôn xuống gầm giường, cạnh mõm con chó. Đồ đoàn từ bấy cha làm rất đẹp chứ không ào ào như thể trả nghĩa tiền nào của nấy nữa nên tiếng lành đồn xa. Mẫu mã luôn được cha cải tiến sao cho vừa đẹp vừa lạ, lại vừa đỡ tốn gỗ. Trước mặt khách, cha thường trèo lên trên nóc tủ dận như dận trạch, hành vi ấy ngầm quảng cáo cho sự vững chắc vô biên của sản phẩm.
Tôi không phải đi làm thuê nữa mà ở nhà đánh giấy ráp cho cha. Những lúc không tìm được hợp đồng mới, cha lôi gỗ chôn dưới gầm giường ra đóng đồ bán. Gỗ quí thì đóng tủ, đóng giường; gỗ thường thì đóng chạn, đóng bàn ghế mộc, mâm ăn cơm, hòm đựng quần áo... Ông hạ bút tính toán, lãi lên tới 489% so với đóng đồ cơm nuôi. Cuộc sống suôn sẻ hơn trước, nhất là từ khi nâng cấp ngoại giao. Ngoài giấy phép hành nghề thợ mộc, cha còn được cấp phép tận thu gỗ chết trên rừng đặc dụng. Nhưng thực chất là cha thay mặt ai đó hạ những cây gỗ lát, gỗ nghiến, gỗ chò... hàng trăm năm tuổi để xẻ, rồi chia chác.

***

Năm cu Lem 16 tuổi, sức khỏe cha tôi đã sa sút trầm trọng. Người khô xác lá. Da như nghệ đổ. Tay chân cha run rẩy, không giơ nổi cái đục lên nữa. Cha tuyển công nhân là những thanh niên thất nghiệp trong bản. Sở trường của bọn họ là leo núi và phá rừng. Nay gò vào lê la, chạm khắc, tỉa tót, chuốt trau những thứ mong manh, tưởng chừng như là hư không thì họ thường xuyên cắt hụt gỗ, đục nhầm mộng, sàm gãy khung… Những góc nối ống tơ chẳng cái nào khớp với cái nào, cứ lè ra như một cái biếu cây chọc thẳng vào con ngươi. Cha chửi rủa, phá phách vung vãi. Thợ nhỏ bỏ đi, gỗ nát vụn nằm chồng đống củi. Chủ gỗ chẳng bắt đền được gì ngoài bộ quần áo vá trên người và mấy cái đồ mướp gỉ. Để có cơm, cha dắt tôi và cu Lem đi dọc khắp các ngả đường Tây Bắc. Lần lượt đi qua bốn tỉnh, toàn bằng những con đường mòn liên xã. Đi nhiều thế mà tôi và cu Lem chưa một lần nhìn thấy đường nhựa và các khu đô thị lớn mà nghe nói nó đẹp long lanh như mắt, như da con gái.
Cu Lem đã lớn nhưng nó chỉ phụ lặt vặt chứ quyết không học nghề mộc. Cha và nó càng ngày càng tỏ ra xung khắc. Cuộc chiến đúng nghĩa của những người đàn ông thường xuyên nổ ra. Đến trận cuối cùng, rồi thì chẳng còn có thêm bất kỳ một sự tay đôi nào nữa:
   - Mày cút đi cho khuất mắt tao!
   - Tôi cũng đang muốn quẳng ông đi cho nhẹ nợ đây.
   - A, mày láo! Ông giết mày...
   - Ông mới là thằng... bố láo. Trước khi giết tôi, ông hãy giết ông đi, vì cái tội quẳng ra đời một lũ khốn nạn như tôi và chị cả...
   - ...   
Cu Lem quay lại bảo tôi:
   - Chị đi với tôi, kệ xác ông ấy.
    Tôi giận tím mặt:
   - Em cút đi! Chị không bất hiếu và khốn nạn như em.
    Cu Lem cười khẩy:
   - Chả nhẽ trên đời còn đứa nào khốn nạn hơn tôi với chị?
    Cu Lem đi, cha suy sụp hẳn. Đến rượu ông cũng không uống được nữa. Tôi thức trắng bên những cơn co giật, quằn quại phát ra từ bên trong cái thân thể khô như xác ve của ông. Bây giờ thì chúng tôi không có nhà nữa. Ngôi nhà (tạm gọi thế) ở Khe Bứa đã là ngôi nhà cuối cùng cha con tôi có thể làm, và đó cũng chính là ngôi nhà mà cha con tôi tá túc lâu nhất. Từ bấy đến nay, đã hơn ba năm, chúng tôi không có nhà. Chúng tôi lênh đênh vạ vật ở bất kỳ gia đình nào gặp được. Bằng khả năng độc thuyết, cha vẫn khiến những chủ gỗ mới bị mắc lừa, ký cót những hợp đồng mang tính trợ cấp. Đã mấy năm nay - kể từ khi cha ốm, tôi đã phải học đóng những bộ bàn ghế mộc, cái chạn bát, hay chiếc giường rẻ quạt đơn giản. Những mặt hàng cao cấp tôi chịu. Biết thế nhưng cha vẫn ký hợp đồng, hơn nữa còn ghi rất rõ: “Chủ gỗ trả trước 50 phần trăm tiền công để mua sắm đồ nghề, linh kiện và lương thực!”. Đến khi những súc gỗ ngon như miếng giò nạc của các gia chủ bị tôi phá nát thì cũng là lúc chúng tôi tay trắng ra đường. Có khi còn bị đánh. Họ đánh một ông già không còn sức sống và một đứa con gái, việc làm mà không mấy ai trên đời này chịu hạ tay. Tôi không bao giờ dám oán họ mà ngược lại còn rất thương họ vì có nhà, cả đời tích nhặt, luồn lót mới có vài ba mét khối gỗ hòng cải thiện nội thất, vậy mà cha con tôi, vì sự sống đã đang tâm phá nát. Thực lòng thì cha tôi không muốn thế. Tôi càng không muốn thế. Hơn lúc nào hết, tôi mong mỏi kiếm sống bằng đúng thực lực của mình, nhưng vì tôi là con gái, tôi bất lực. Cha đã luôn ngồi bên để chỉ bảo tôi từng đường cưa, mũi đục, như tôi đã bất lực trong sự gắng kiết của ý chí.
    Tôi không nhớ lần bị đuổi đi thứ bao nhiêu như thế thì cha tôi chết. Cha chết giữa đường. Cha chết không quan, không hoa, không kèn, không trống. Cha chết mà miệng cha vẫn cười: “Đàn bà phải học cách đểu cáng của bọn đàn ông để thế giới này bình hòa”. Tôi thương cha, nhưng cũng oán cha bởi cái triết lý tồn tại bất cần trung thực ấy. Tôi chạy vạy, van xin khắp các nhà không quen biết, cuối cùng cũng có người cho bát gạo, quả trứng để cha đi khỏi đói. Không có tiền chôn, tôi cứ ngồi bên cái xác của cha như thế và cầu nguyện cho cha nhanh bốc mùi. Thiên hạ vốn sợ ô nhiễm sẽ lôi đi vùi hộ...

***

Còn lại một mình, tôi lang thang khắp các ngõ bản xin làm thuê, xin ở thuê. Bọn đàn ông lôi về nhà ở thử dăm ba hôm rồi lại hất ra đường với lí do không hợp. Lần cuối cùng (đời tôi quá nhiều lần cuối cùng), tôi chìm vào cơn say định mệnh. Khi tỉnh dậy, tôi nhận ra mình bị nhốt trong một căn phong của dãy nhà lợp ngói âm dương. Tôi đang ở gần mẹ! Nhưng tôi cay đắng khi biết mẹ đã bị bán qua tay dăm, bảy thằng đàn ông, để đẻ cho bọn chúng những đứa con mới. Gã dượng người Tàu yếu ớt và dăn dúm tựa hồ đống da trâu vứt ở góc phòng. Ngôi nhà ngày xưa vẫn thế, chỉ khác là nó trở thành một tiệm bán buôn hóa mĩ phẩm. Bà chủ là một cô gái trẻ tên là Wen Ding. Các bạn bán hoa bảo, đó là con gái duy nhất của dượng, với một người đàn bà Việt. Chồng cô ta là một trùm buôn bán hêroin và phụ nữ. Hắn rất ít xuất hiện, nhưng mỗi khi về là lên xe xuống ngựa. Chiếc Mercedes-Benz SL-Class trị giá trên 600 ngàn USD của hắn nhả khói vào bất kì mặt ai ở cái thị trấn này.
Mỗi buổi vắng khách, tôi lại lê la sang tiệm mĩ phẩm Wen Ding. Ôi, em tôi! Nó có nước da trắng nõn, bộ ngực luôn phập phồng thổn thức của mẹ, của tôi, và cặp mắt một mí đẹp bí ẩn của người cha Tàu. Thỉnh thoảng ông bố dượng tôi cũng mon men ra ngoài, nhưng lập tức bị Wen Ding đuổi vào. Tôi lõm bõm tiếng Quan Hỏa. Wen Ding đối xử với bố không tốt lắm, chắc vì nó hận bố đã bán mẹ. Thế là em tôi cũng còn hơi hướng của sự tử tế. Đang nhận tư vấn mĩ phẩm từ Wen Ding thì chồng nó về. Cửa chiếc xe Mercedes vừa bật ra, tôi sững lại!
Tôi vụt chạy về bên này biên giới. Đằng sau, quân đầu trâu mặt ngựa chuyên nghề bảo kê cho chủ chứa gái mại dâm, sầm sập truy đuổi. Tiếng la ó và tiếng chân chạy động đất cả một vùng biên. Lúc hai thằng gần chộp được tôi thì tôi nghe hai tiếng súng nổ. Rất gọn. Rất gần. Hai cái xác đổ ập ngay sau lưng. Tôi ngoái đầu lại bắt gặp cặp mắt đau đớn và kinh ngạc.
Trên tay trùm maphia Lem, khẩu súng lục nh khói vẩn vơ vào không trung...


M.A, 13.6.2009

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét