25 tháng 2, 2013

NGÔI TRƯỜNG BÊN BỜ SÔNG ĐÀ

      Mùa xuân vẫn đang cặm cụi làm việc trên vách núi. Những chùm hoa ban nhõng nhẽo như cô thôn nữ đang yêu, khoe sự đẹp hết cỡ ra trước thiên nhiên, hòa bóng vào nước sông Đà tọa nên một “thiên tình chuyện” bằng tranh làm cho chân người đi không muốn bước. Chẳng ai biết mùa xuân có từ bao giờ. Chẳng ai biết con sông có từ bao giờ, chỉ biết nó được bắt nguồn từ Ngụy Sơn - Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào nước ta qua Nậm Te (Mường Tè - Lai Châu) ; nhưng có một ngôi trường thì ai cũng biết bởi nó nằm gần ngay phía dưới chân đập thủy điện Sơn La …

      Một chút về con sông vùng Tây Bắc.
       Sông Đà là nhánh lớn nhất trong 3 nhánh sông (cùng sông Thao và Lô Gâm) của hệ thống sông Hồng. Sông Đà có tổng chiều dài 980 km, thì 540 km chảy trong nước ta, hằng năm cung cấp gần 50% lưu lượng dòng chảy của sông Hồng. Là một con sông có lưu vực lớn, do bị “kẹp” giữa hai khối kiến tạo đá vôi Phan - Xi - Phăng và Pu - Đen - Đinh nên thác ngềnh nhiều, độ dốc cao đã tạo ra trữ năng lớn về thủy điện (chiếm 38% hệ thống sông ngòi cả nước). Chính vì thế mà trên sông Đà có tới 5 thủy điện, gồm 3 thủy điện trên sông chính là thủy điện Hòa Bình (cao 115 m ; công suất 1.920 MW), thủy điện Sơn La (cao 215 m ; công suất 2.400 MW) và thủy điện Lai Châu (cao 295 m ; công suất 1.200 MW) ; còn 2 thủy điện Huội Quảng (cao 370 m ; công suất 520 MW) và thủy điện Bản Chát (cao 470 m ; công suất 180 MW) nằm trên nhánh Nậm Mu. Ngoài ra, sông Đà còn góp phần cung cấp một lượng phù sa lớn, hết sức mầu mỡ cho vùng châu thổ sông hồng. Tuy nhiên về mùa lũ, con sông hung dữ này đã gây ra vô vàn mất mát, phiền toái cho hai bên lưu vực và vùng châu thổ, do đó mà ngay từ năm 1956, Nhà nước bắt đầu khảo sát tổng hợp sông ngòi cả nước, một Văn phòng ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng đã được thành lập. Sang năm 1975, Văn phòng này lập xong thuyết minh tổng quan sông Đà và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cùng với thiết kế thủy điện Hòa Bình và thủy điện Tạ Bú (nay là thủy điện Sơn La). Năm 1984 - 1988, Bộ Năng lượng tiến hành lập Dự án đầu tư thủy điện Sơn La với phương án Sơn La cao (260 - 265 m, công suất 3000 - 3600 MW) và đến năm 1990 Nhà nước đưa thủy điện Sơn La vào danh mục đầu tư tiếp theo. Tuy nhiên, sau 15 năm chờ đợi, ngày 2.12 năm 2005, thủy điện Tạ Bú (tên cũ) mới được khởi công và xây dựng. Lúc này phương án Sơn La cao đã được Công ty tư vấn xây dựng điện I trình rút xuống Sơn La thấp (215m) với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế 2.400 MW, có diện tích lưu vực là 43.760 km2, diện tích hồ chứa 224 km2, dung tích toàn bộ hồ chứa: 9,26 tỷ m3… . Để chuẩn bị cho ngày khởi công và ngăn sông, hơn 6000 công nhân đã phải làm 3 ca trong suốt gần 2 năm trời và đã đào, đắp được 10.970.579 m3 đất đá; đổ, khoan phụt chống thấm 5.366.570 m3 bê tông các loại ; lắp đặt 63.459 tấn thiết bị công nghệ… . Đây là công trình đầu tiên, Việt Nam làm chủ hoàn toàn công nghệ mà theo dự tính ban đầu thời gian xây dựng là 10 năm (2005 - 2015), nhưng vì cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam phấn đấu đồng thời lễ khởi công là lễ ngăn sông nên rút ngắn xuống còn 8 năm ; không giống như thủy điện Hòa Bình với thời gian thi công dài 15 năm (từ 1979 – 1994) mà cán bộ công nhân Việt Nam chỉ là người giúp việc của các chuyên gia Liên Xô kinh nghiện và tiên tiến trong lĩnh vực điện nước…
       Ngôi trường bên bờ sông Đà
        Cho đến đầu năm 2004, Thủy điện Sơn La vẫn còn chưa được chính thức quyết định về phương án xây dựng, và như vậy đồng nghĩa với việc thị xã Lai Châu của tỉnh Lai Châu (cũ) và thị trấn huyện Mường La của tỉnh Sơn La sẽ bị ngập trong lòng hồ. Chính vì thế mà từ 2003 trở về trước, thị trấn Mường La không được quan tâm đầu tư, trong xu thế chungấy có trường PTDT nội trú huyện. Mặc dù được thành lập từ năm 1978, và sau đó đã được kiến thiết vào loại “sang” nhất Phòng GD - ĐT huyện, nhưng đến nay thì khác rồi. Cơ sở vật chất thiếu thốn, không có biển hiệu trường, không có tường bao. Thầy hiệu trưởng Phạm Quang Lữ thương nhất là bữa ăn của các bạn học sinh nội chú ở đây, do thiếu bàn ghế nên các bạn phải thay nhau ngồi ngoài ban công, ngồi bệt xuống hè (ảnh 1). Tuy nhiên, dù khó khăn là thế nhưng nhiều bạn vẫn học rất giỏi. Toàn trường có tổng cộng 7 lớp với 246 h/s thuộc 6 dân tộc : Thái, Mông, Kháng, La Ha, Mường, KMú. Các bạn đoàn kết và thương nhau lắm. Có những bạn ở rất xa, mỗi lần về thăm nhà phải mất 3 tiếng đi thuyền ngược sông đà và 2 tiếng đi bộ nữa, như bạn Lò Thị Hóa, dân tộc Kháng. Bạn Hóa (ảnh 2) học lớp 6B, do mới nhập trường nên còn nhút nhát, nhưng lại học rất giỏi, tuy chưa tổng kết môn nhưng các thầy cô bộ môn đánh giá bạn Hóa tiếp thu kiến thức vào loại ‘siêu”. Nơi bạn Hóa ở chỉ độ 20 nóc nhà, hầu hết là nghèo, hiện tại chỉ có một mình Hóa còn đi học trường huyện. Nhà Hóa nghèo lắm, một năm đói đến 6 tháng (ăn sắn) nhưng bạn vẫn cố gắng học tập với ước mơ mai này được làm cô giáo. Còn đôi bạn dân tộc Mông Sộng A Tênh và bạn Mùa A Của (ảnh 3). Hai bạn tuy mỗi người một bản nhưng đến trường là thân nhau ngay, bởi họ giống nhau cả cái xa nhà mất 4 tiếng đi bộ và mỗi năm đói từ 3 - 5 tháng. Năm nay cả 2 đều đã học lớp 9, bạn Tênh 3 năm liền là h/s tiến tiến, 5 năm liền làm lớp trưởng, nhưng năm nay thôi rồi “vì cô giáo bảo bé quá không nhắc được các bạn”. Còn bạn Của là người cùng xã với bạn Hóa đấy. Của không những là h/s tiên tiến mà còn là đội trưởng đội bóng chuyền lớp, đã từng vô địch trường ; hơn thế bạn còn là 1/24 đội viên Đội xung kích nhà trường - tức là bảo vệ trường đấy. Trời rét thế mà mỗi đêm các bạn trong Đội phải thay phiên nhau dậy 3 lần để “canh cho trường ngủ”. Chưa hết, vì “chế độ” của các bạn có hạn (200.000 đồng/30 ngày); đã thế còn phải trừ rất nhiều khoản như: kem đánh răng, xà phòng, thuốc khử trùng nhà vệ sinh… và cũng không thể thiếu tem để viết thư thăm nhà được, nên tiền ăn chỉ còn chừng 4000 đồng/ngày/bạn. Do đó các bạn đã phải trồng thêm mỗi năm 4 tấn rau xanh, nuôi 1 tấn lợn nữa để cải thiện. Nhà trường cũng còn rất nhiều bạn nghèo mà vẫn “văn võ song toàn” như bạn Vàng A Ninh, học lớp 9A, đoạt giải nhì môn nhảy xa HKPĐ huyện; bạn Giàng A Thư, học lớp 9B đoạt giải nhì môn bắn nỏ HKPĐ tỉnh và cao nhất là bạn Lầu A Chinh, học lớp 8B đoạt HCĐ môn bắn nỏ HKPĐ toàn quốc năm 2004…
        Hiện tại nhà trường không có phòng đa năng để thực hành ngoại ngữ, tin học, học nhạc, học họa…; không có phòng đa chức năng để tổ chức những buổi sinh hoạt tập thể, vui chơi và thi đấu thể thao… ; không có tập thể, rất khó khăn cho các thầy cô giáo mới, các thầy cô làm nhiệm vụ trực đêm ở trường, nên được liệt vào một trong những ngôi trường nghèo của cả nước. Tuy vậy, với 19,5 % các bạn học khá giỏi và hằng năm, ví như năm học 2004 - 2005 chỉ có 21,6 % các bạn tốt nghiệp xong trở về địa phương, còn lại 32,4 % các bạn tham gia học cử tuyển và 46 % thi đỗ vào các trường TH chuyên nghiệp và THPT… Kết quả đó nói lên một điều rằng, rồi đây khi mà thị trấn Mường La thành điểm du lịch, thủy điện Sơn La thắp sáng cho cả nước, trong đó có các bạn vùng sâu vùng xa; thì ngôi trường nhỏ bên bờ sông Đà cũng theo đó được nâng cấp, các bạn cũng vì thế mà có điều kiện học tập tiến bộ hơn... .

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét