16 tháng 3, 2013

ĐIỂM DANH BẠN BẢN - TẬP THƠ TRI ÂN GIÁO DỤC




  Tôi và Du An quen nhau đã 16 năm, bạn viết cùng anh cũng ngần ấy. Tôi “ngứa ngáy” với tập thơ Điểm danh bạn bản - NXB Văn hóa dân tộc tháng 6.2011 - của Du An không phải vì một kênh đặt hàng nào cả, cũng không phải vì tôi thân Du An, nên lại quả nhau, mà thực tình, những năm gần đây, sau rất nhiều tập thơ, cả tập thể, cả cá nhân thuộc Hội VHND Điện Biên được xuất bản, thì Điểm danh bạn bản có nhiều thứ để bàn hơn cả. Sở dĩ tôi đánh giá “Tập thơ tri ân giáo dục” là có nội tình, chứ trong tập sách chỉ có vẻ vẹn 11/42 bài là viết về giáo dục (thầy, cô, trò, lớp học…). Trước khi sang công tác ở Hội (2008), tôi là người đầu tiên động viên Du An. Bản tính trách nhiệm và ý thức gia đình khiến anh phân vân nhiều. Đồng lương giáo viên, cho dù có “chuột chạy hết sào” thì cũng khá hơn rất nhiều cái nghề “cầm bút vẽ chữ” mà tôi danh phong là: Thâm niên tiêu tiền lẻ! Sự hụt mất ấy, chắc chẳng có gì mà bù đâu, nhưng đắp đổi chính là tác phẩm. Nếu Du An vẫn viết tay trái, bao giờ mới có tập thơ đầu tay này (dẫu biết, cả thảy 42 bài được anh viết suốt từ 1988 - 2010; nhưng phần đa được hoàn thành trong thời gian gần đây). Nếu Du An sớm tối lui cui với trò này bài nọ, thì lấy đâu ra một loạt truyện ngắn, thơ lục bát in trên Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân đội…như hôm nay. Du An sang Hội, ngơ ngơ ngẩn ngẩn như người mất của quí. Có đến mấy năm rồi, vẫn chưa dám ngồi ngả người ra tựa như các lãnh đạo vẫn ngồi. Anh không sợ nhăn lưng áo (áo nhà văn thì khác gì cái giẻ đâu), mà anh sợ cái hành vi ấy xúc phạm vào sự mô phạm được nâng niu suốt từ cái thuở quyết định cắp sách vào trường đào tạo thành thầy giáo.
   Ngoài những “nếp hằn khắc” trong tâm về đàn em, về  bài giảng, về cả sự khuôn thước được gò uốn hơn hai chục năm của Du An, tôi còn nhìn thấy sự “tri ân giáo dục” ở những vần thơ rành mạch và niềm nỗi đến nao lòng. Chỉ là “dân thiểu số” (chiếm 1/4 tập sách), nhưng những câu thơ Du An viết về giáo dục dồn nén và trải nghiệm hơn, xót xa và thấm đậm hơn; cho dù những bài thơ “phổ thông” kia cũng không kém phần bung phá. Tiêu biểu cho cái “nết” nhà giáo của Du An là Viết khi đèn hết dầu. Làm anh giáo thuần, không là soạn bài thì chỉ có làm thơ mới xứng để không có ánh sáng vẫn viết; không nhìn thấy gì vẫn viết. Mắt bưng, nhưng lòng mở. Một thứ “chất” diệu kì đã “dẫn” hồn thơ Du An đi qua sâu thẳm vực thơ, vực đời… biến tác giả thành diễn viên ảo thuật trên cái sân khấu xiếc không… ai nhìn thấy được. Giấy, bút, mực, phấn, bảng… nhà giáo không thiếu, chỉ thiếu con chữ ngay ngắn, thẳng hàng. Trong bóng đêm, cái ý thức nhà giáo, nhà thơ đã cưỡng bức Du An, ép buộc Du An nâng tầm sư phạm lên đến độ “chín chữ, chín ý”, và cái trí thơ cũng được lên độ ngộ ngôn, ngộ tứ: Vốn sống bao năm dồn về/ Dờ dẫm như người hát xẩm/ Cây bút chiếc gậy dắt đi…
   Cái khoảng thực (ngoài thơ) của Du An hình như cũng khe khắt với tác giả. Người đọc chỉ dừng lại ở hiểu: chắc tác giả mượn cái tứ đang viết bị hết dầu để làm một bài thơ cảm động về cuộc sống một thời chăng? Không, cái thờ thơ Du An là thế: Còn phao dầu dành mãi đến hôm nay/ Ta thắp lên đợi sang hai lăm tuổi… (Hai lăm tuổi). Ngày sinh nhật mà món quà duy nhất của một anh giáo bản chỉ là thứ ánh sáng hắt ra từ leo lét nghèo nàn… . Du An dạy cấp 3, ở trung tâm thị trấn, nhưng khát khao mò mẫm đến với những “cô giáo cắm bản” trên lơ lửng trời xanh - những chỗ mà cứ hễ Du An đến là chẳng còn gì vương vướng, chẳng còn gì thấp thoáng, lờ mờ: Sáng nay sương mù tan đi đâu hết/ Em Sùng, em Dơ viết được tên mình/ Cô giáo người Kinh trẻ quá/ Giữa trập trùng rừng núi cao xanh… (Lớp học trên bản Mông). Và: Không phải là cổ tích/ Cũng không đưa bút viết trời xanh/ Những cô giáo cắm bản/ Ngày lại ngày thêu dệt bức tranh… (Bức tranh mùa thu). Rồi thì, đi hết cái đường thơ “ông đồ”, Du An đúc kết bằng cách, tự phác họa cho mình, cho sự nghiệp giáo dục mà mình tôn dâng và theo đuổi, một bức tranh bằng chữ: Thanh tra bảo có phong cách/ Thấp thoáng ông đồ ngày xưa/ Rủ rỉ cũng là thế mạnh/ Đường văn mỏnh mảnh như tơ (Bục giảng xa mờ)…
   Đúng như tôi từng biết, cái máu anh giáo của Du An, cho dù có chuyển ngành cả… trăm năm cũng làm sao mà mờ, làm sao mà phai. Anh không cao ngạo đến độ có thể chạy ra giữa đường giảng cho người nọ, dạy dỗ người kia như những người… ngộ, nhưng thơ anh thì khác. Đã có “phong cách gián tiếp giáo dục”. Có nhẽ, tại cái “nguyên tắc là tác phong… nhà giáo”. Cũng có lẽ bởi cái ý thức tự nghiêm khắc mình, khuôn thước mình, nên cái máu anh giáo mới tràn ra khỏi bục giảng: Có thể em chưa biết thế nào là đô thị hóa…/ Có thể em chưa biết hoa ban sao lại cần đến thế…/ Có thể em không thể phấn son/ Áo hai dây, váy mùa hè mát mẻ/ Ngơ ngác trước “zô zô” quán sá tưng bừng…/ Em ở đâu? Đang nói hay cười/ Tình yêu một người, hạnh phúc đem phơi (Tự vấn về em). Nỗi đau của một người thầy, người cha; và hơn cả thế là nỗi đau của một nhà thơ chân chính đối với số phận con người - nhất là những số phận bị bán ra nước ngoài làm gái bán hoa -  ở cái buổi, cái gì cũng qui ra thóc (tiền), trong bài thơ Thư gửi mẹ, Du An đã tức tưởi thay cho cô bé lỡ không vâng lời: Người ta phấn son bắt cởi áo quê mùa/ Con như con nai rừng sập bẫy/ Giẫy giụa kêu chẳng bằng tiếng trời mưa…
   Du An vốn là người nặng lòng. Đứng cạnh cái tiết trung trinh của một nhà giáo đúng nghĩa, ở đâu đó, cái “duyên ngầm” vốn bị khoác lên mình mảnh vải phong tình của nhà thơ, vẫn lấp ló, chạnh lòng: … Tôi chầm chậm xe qua vùng tiên nữ/ Im lặng quá chừng chỉ còn tiếng nước khua/ Những bờ vai, chân dài kia xa quá. Nhỡ lũ ống về… nhỡ thèm khát vụt ra! (Suối con gái). Chỉ còn suối rừng róc rách/ Bài thơ gửi lại nhà sàn/ Sáng mai em đi lên lớp/ Gió từ mười núi gió sang (Em từ trong bản). Cái nặng lòng được thể hiện nhiều nhất, đậm nhất khi Du An hoài niệm, hoài ân: Đường nghề tháng năm dầu dãi/ Cha tôi về hưu… còn tôi/ Nhớ câu Văn hay cày giỏi/ Cây bút chợt lặng trong tay… (Đường nghề cha và tôi). Cha con làm tiều phu năm ấy/ Những cánh rừng ứa máu hoàng hôn/ Suối không nỡ lấy thêm mồ hôi nữa? Gió chẳng thể nào rét lại rét hơn/ … Cha bỗng hóa thành bức tượng đơn côi/… Bức tượng ấy theo con vào sách vở/ Con đi tìm thấy chân lí của cha… (Bài thơ tặng cha).
   Đời thơ Du An có hai lần “đau” mẹ. Một đau cho cái thuở đói nghèo quay quắt: Một lần nghe mẹ nói/ “Người lớn chẳng đói đâu”/ Con mải chơi quên mất/ Để bây giờ xót đau(Nồi cơm của mẹ). Một lần trước khi mẹ Du An - mẹ thơ của chúng ta - mất vì một căn bệnh hiểm nghèo, Du An khóc: Mẹ ơi dạo này con cứ mơ về mẹ/ Vụt ở cuối trời chỗ những vì sao/ Con chạy và con không tới được/ Con mới biết mình yêu mẹ biết bao (Tình mẹ). Còn một lần đau mẹ nữa, nhưng là mẹ chung của tất cả con dân nước Việt: Thôi thì mẹ không gọi nữa/ Mẹ bưng cơm, thức ăn lên bàn thờ/ Con ăn đi cho mẹ nhìn thấy/ Bát không vơi mẹ vẫn cứ chờ (Cứ đến bữa cơm là mẹ khóc).
   Ai nghĩ thế nào không biết, riêng tôi, thơ Du An hay chính ở cái rõ rành đến chật vật và bi thương xảy ra quanh tác giả một thời ấy. Thơ nghe cứ ranh rách, va vá:… Tầng sắn hớt cho cún/ Tầng mẹ cơm lồng phồng/ Con được ưu tiên nhất/ Chén cơm không ngọt lừ… (Nồi cơm của mẹ). Và thơ nghe cứ gập ghềnh, chênh vênh: Thì một chút chênh vênh đã sao/ Ăn thua gì mấy cua tay áo…(Thơ trên đèo - Qua đèo Pha Đin)…
   Kể từ cái ngày lên Điện Biên cách nay hơn hai chục năm, Du An đã coi Điện Biên là quê hương thứ hai rồi. Có thể nói, ngoài những bài thơ viết về giáo dục thì, một đề tài nữa, theo tôi là chủ lực (xét về địa danh), đó là những bài viết về quê hương mới - một quê hương ăm ắp núi non hùng vĩ và, kì quan khám phá. 28/42 bài được viết về đất và người miền núi (một số bài nữa cũng gián tiếp lấy cảm xúc ở Điện Biên), đủ cho ta thấy cái say đắm của Du An, cái trẫm mình của Du An vào không gian, vào con người, vào cả sự đổi thay lẫn những cái ngô nghê; vào cùng với tồn tại và mất mát; vào trong hiện thực, vào đến tương lai: Thầy về Mường Ảng một chiều đông/ Phút ngỡ ngàng tầm cao của núi/ Tiếng gì líu lo trong lời cô gái/ Tình yêu bắt đầu từ một sắc khăn piêu… (Thầy về Mường Ảng). Người làm thơ quê tôi/ Đều muốn tên mình dưới cánh ban…/… Rồi cả chục bài cùng nhau ra sừng sững/ Đọc lên thấy núi dựng quanh nhà (Hoa ban - Thơ). Nắng mật ong như đang rót/ Mùa xuân bản Mển vào tôi/ Tôi hôm nay nghe tiếng hát/ Tình yêu hạnh phúc sinh sôi (Một lần bản Mển). Còn bao nhiêu người như cha tôi nhìn thấy được?/ Bằng rưng rưng đôi mắt Điện Biên (Đôi mắt Điện Biên). Có lẽ dễ hiểu nhất, sâu sắc nhất cho cái thuyết “Xin người ban tôi làm con của núi” của Du An là: Rượu bản về mình vẫn còn say/ Cái bắt tay nồng nàn mắt lửa/ Anh Lả, chị Phanh… có còn ai đó/ Người quen tôi vẫn điểm danh tôi? (Điểm danh bạn bản)…


***

   Chúc mừng Du An sau hơn hai mươi năm làm thơ, vì cuộc sống, vì cả những điều chưa tiện nói về cơ chế VHNT… cuối cùng, anh cũng cho ra mắt bạn bè tập thơ đầu tay của mình. Và hơn thế, là sự gửi gắm đến bạn thơ một góc quan sát riêng theo phong cách Du An về giáo dục vùng cao, với khẩu khí tưng tửng, bút pháp chơi chơi, không hề gò ép, không qui tắc thơ, mà đều đều, gần gụi, thương thương và đôi khi là vụt buồn, vụt đau rồi vụt vui… . Ngoài ngôn ngữ thuộc về hàng… nghề nghiệp ra, Du An cũng có thứ ngôn ngữ, vẫn nói vui là “Đang hiếm dần trên đỉnh núi”: Bếp lửa cháy một mình không uống rượu (Đêm nhà sàn); Ba bốn năm lần lỗi hẹn/ Tưởng sắp thành người gió bay (Một lần bản Mển); Thở đằng lưng lu cở Pú Cai…/ Ai cầm núi như cái áo đầy mồ hôi mà vắt/ Núi vặn như cái lạt giang non không đứt (Pú Cai)...
   Điểm danh bạn bản nói riêng, thơ Du An nói chung, cần đọc ý chứ không đọc lời. Cách nói tắt, nói cộc, nói nửa chừng theo kiểu “người khôn” chính là cái làm tôi nhớ Du An và nhớ thơ anh. Ai đã cầm trên tay Điểm danh bạn bản, nếu không cùng quan điểm, xin coi như một lần thực tế bằng thơ, không suy ngẫm thì tham khảo, một góc riêng, một miền thơ riêng. Thơ Du An./

Nơi đầu tiên Du An đặt chân lên Tây Bắc, 04.08.2011

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét