Tôi
và Du An quen nhau đã 16 năm, bạn viết cùng anh cũng ngần ấy. Tôi “ngứa ngáy”
với tập thơ Điểm danh bạn bản - NXB Văn hóa dân tộc tháng
6.2011 - của Du An không phải vì một kênh đặt hàng nào cả, cũng không phải vì
tôi thân Du An, nên lại quả nhau, mà thực tình, những năm gần đây, sau rất
nhiều tập thơ, cả tập thể, cả cá nhân thuộc Hội VHND Điện Biên được xuất bản,
thì Điểm danh bạn bản có nhiều thứ để bàn hơn cả. Sở dĩ tôi
đánh giá “Tập thơ tri ân giáo dục” là có nội tình, chứ trong tập sách chỉ có vẻ
vẹn 11/42 bài là viết về giáo dục (thầy, cô, trò, lớp học…). Trước khi sang
công tác ở Hội (2008), tôi là người đầu tiên động viên Du An. Bản tính trách
nhiệm và ý thức gia đình khiến anh phân vân nhiều. Đồng lương giáo viên, cho dù
có “chuột chạy hết sào” thì cũng khá hơn rất nhiều cái nghề “cầm bút vẽ chữ” mà
tôi danh phong là: Thâm niên tiêu tiền lẻ! Sự hụt mất ấy, chắc chẳng có gì mà
bù đâu, nhưng đắp đổi chính là tác phẩm. Nếu Du An vẫn viết tay trái, bao giờ
mới có tập thơ đầu tay này (dẫu biết, cả thảy 42 bài được anh viết suốt từ 1988
- 2010; nhưng phần đa được hoàn thành trong thời gian gần đây). Nếu Du An sớm
tối lui cui với trò này bài nọ, thì lấy đâu ra một loạt truyện ngắn, thơ lục
bát in trên Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân đội…như hôm nay. Du An sang
Hội, ngơ ngơ ngẩn ngẩn như người mất của quí. Có đến mấy năm rồi, vẫn chưa dám
ngồi ngả người ra tựa như các lãnh đạo vẫn ngồi. Anh không sợ nhăn lưng áo (áo
nhà văn thì khác gì cái giẻ đâu), mà anh sợ cái hành vi ấy xúc phạm vào sự mô
phạm được nâng niu suốt từ cái thuở quyết định cắp sách vào trường đào tạo thành
thầy giáo.
Ngoài
những “nếp hằn khắc” trong tâm về đàn em, về bài giảng, về cả sự
khuôn thước được gò uốn hơn hai chục năm của Du An, tôi còn nhìn thấy sự “tri
ân giáo dục” ở những vần thơ rành mạch và niềm nỗi đến nao lòng. Chỉ là “dân
thiểu số” (chiếm 1/4 tập sách), nhưng những câu thơ Du An viết về giáo dục dồn
nén và trải nghiệm hơn, xót xa và thấm đậm hơn; cho dù những bài thơ “phổ
thông” kia cũng không kém phần bung phá. Tiêu biểu cho cái “nết” nhà giáo của
Du An là Viết khi đèn hết dầu. Làm anh giáo thuần, không là soạn
bài thì chỉ có làm thơ mới xứng để không có ánh sáng vẫn viết; không nhìn thấy
gì vẫn viết. Mắt bưng, nhưng lòng mở. Một thứ “chất” diệu kì đã “dẫn” hồn thơ
Du An đi qua sâu thẳm vực thơ, vực đời… biến tác giả thành diễn viên ảo thuật
trên cái sân khấu xiếc không… ai nhìn thấy được. Giấy, bút, mực, phấn, bảng…
nhà giáo không thiếu, chỉ thiếu con chữ ngay ngắn, thẳng hàng. Trong bóng đêm,
cái ý thức nhà giáo, nhà thơ đã cưỡng bức Du An, ép buộc Du An nâng tầm sư phạm
lên đến độ “chín chữ, chín ý”, và cái trí thơ cũng được lên độ ngộ ngôn, ngộ
tứ: Vốn sống bao năm dồn về/ Dờ dẫm như người hát xẩm/ Cây bút chiếc
gậy dắt đi…
Cái
khoảng thực (ngoài thơ) của Du An hình như cũng khe khắt với tác giả. Người đọc
chỉ dừng lại ở hiểu: chắc tác giả mượn cái tứ đang viết bị hết dầu để làm một
bài thơ cảm động về cuộc sống một thời chăng? Không, cái thờ thơ Du An là
thế: Còn phao dầu dành mãi đến hôm nay/ Ta thắp lên đợi sang hai lăm
tuổi… (Hai lăm tuổi). Ngày sinh nhật mà món quà duy nhất của
một anh giáo bản chỉ là thứ ánh sáng hắt ra từ leo lét nghèo nàn… . Du An dạy
cấp 3, ở trung tâm thị trấn, nhưng khát khao mò mẫm đến với những “cô giáo cắm
bản” trên lơ lửng trời xanh - những chỗ mà cứ hễ Du An đến là chẳng còn gì
vương vướng, chẳng còn gì thấp thoáng, lờ mờ: Sáng nay sương mù tan đi
đâu hết/ Em Sùng, em Dơ viết được tên mình/ Cô giáo người Kinh trẻ quá/ Giữa
trập trùng rừng núi cao xanh… (Lớp học trên bản Mông).
Và: Không phải là cổ tích/ Cũng không đưa bút viết trời xanh/ Những cô
giáo cắm bản/ Ngày lại ngày thêu dệt bức tranh… (Bức tranh mùa thu).
Rồi thì, đi hết cái đường thơ “ông đồ”, Du An đúc kết bằng cách, tự phác họa
cho mình, cho sự nghiệp giáo dục mà mình tôn dâng và theo đuổi, một bức tranh
bằng chữ: Thanh tra bảo có phong cách/ Thấp thoáng ông đồ ngày xưa/ Rủ
rỉ cũng là thế mạnh/ Đường văn mỏnh mảnh như tơ (Bục giảng xa mờ)…
Đúng
như tôi từng biết, cái máu anh giáo của Du An, cho dù có chuyển ngành cả… trăm
năm cũng làm sao mà mờ, làm sao mà phai. Anh không cao ngạo đến độ có thể chạy
ra giữa đường giảng cho người nọ, dạy dỗ người kia như những người… ngộ, nhưng
thơ anh thì khác. Đã có “phong cách gián tiếp giáo dục”. Có nhẽ, tại cái
“nguyên tắc là tác phong… nhà giáo”. Cũng có lẽ bởi cái ý thức tự nghiêm khắc
mình, khuôn thước mình, nên cái máu anh giáo mới tràn ra khỏi bục giảng: Có
thể em chưa biết thế nào là đô thị hóa…/ Có thể em chưa biết hoa ban sao lại
cần đến thế…/ Có thể em không thể phấn son/ Áo hai dây, váy mùa hè mát mẻ/ Ngơ
ngác trước “zô zô” quán sá tưng bừng…/ Em ở đâu? Đang nói hay cười/ Tình yêu
một người, hạnh phúc đem phơi (Tự vấn về em). Nỗi đau của một
người thầy, người cha; và hơn cả thế là nỗi đau của một nhà thơ chân chính đối
với số phận con người - nhất là những số phận bị bán ra nước ngoài làm gái bán
hoa - ở cái buổi, cái gì cũng qui ra thóc (tiền), trong bài
thơ Thư gửi mẹ, Du An đã tức tưởi thay cho cô bé lỡ không vâng
lời: Người ta phấn son bắt cởi áo quê mùa/ Con như con nai rừng sập
bẫy/ Giẫy giụa kêu chẳng bằng tiếng trời mưa…
Du
An vốn là người nặng lòng. Đứng cạnh cái tiết trung trinh của một nhà giáo đúng
nghĩa, ở đâu đó, cái “duyên ngầm” vốn bị khoác lên mình mảnh vải phong tình của
nhà thơ, vẫn lấp ló, chạnh lòng: … Tôi chầm chậm xe qua vùng tiên nữ/
Im lặng quá chừng chỉ còn tiếng nước khua/ Những bờ vai, chân dài kia xa quá.
Nhỡ lũ ống về… nhỡ thèm khát vụt ra! (Suối con gái). Chỉ
còn suối rừng róc rách/ Bài thơ gửi lại nhà sàn/ Sáng mai em đi lên lớp/ Gió từ
mười núi gió sang (Em từ trong bản). Cái nặng lòng được thể
hiện nhiều nhất, đậm nhất khi Du An hoài niệm, hoài ân: Đường nghề
tháng năm dầu dãi/ Cha tôi về hưu… còn tôi/ Nhớ câu Văn hay cày giỏi/ Cây bút
chợt lặng trong tay… (Đường nghề cha và tôi). Cha con
làm tiều phu năm ấy/ Những cánh rừng ứa máu hoàng hôn/ Suối không nỡ lấy thêm
mồ hôi nữa? Gió chẳng thể nào rét lại rét hơn/ … Cha bỗng hóa thành bức tượng
đơn côi/… Bức tượng ấy theo con vào sách vở/ Con đi tìm thấy chân lí của
cha… (Bài thơ tặng cha).
Đời
thơ Du An có hai lần “đau” mẹ. Một đau cho cái thuở đói nghèo quay quắt: Một
lần nghe mẹ nói/ “Người lớn chẳng đói đâu”/ Con mải chơi quên mất/ Để bây giờ
xót đau(Nồi cơm của mẹ). Một lần trước khi mẹ Du An - mẹ thơ của
chúng ta - mất vì một căn bệnh hiểm nghèo, Du An khóc: Mẹ ơi dạo này
con cứ mơ về mẹ/ Vụt ở cuối trời chỗ những vì sao/ Con chạy và con không tới
được/ Con mới biết mình yêu mẹ biết bao (Tình mẹ). Còn một lần
đau mẹ nữa, nhưng là mẹ chung của tất cả con dân nước Việt: Thôi thì mẹ
không gọi nữa/ Mẹ bưng cơm, thức ăn lên bàn thờ/ Con ăn đi cho mẹ nhìn thấy/ Bát
không vơi mẹ vẫn cứ chờ (Cứ đến bữa cơm là mẹ khóc).
Ai
nghĩ thế nào không biết, riêng tôi, thơ Du An hay chính ở cái rõ rành đến chật
vật và bi thương xảy ra quanh tác giả một thời ấy. Thơ nghe cứ ranh rách, va
vá:… Tầng sắn hớt cho cún/ Tầng mẹ cơm lồng phồng/ Con được ưu tiên nhất/
Chén cơm không ngọt lừ… (Nồi cơm của mẹ). Và thơ nghe cứ gập
ghềnh, chênh vênh: Thì một chút chênh vênh đã sao/ Ăn thua gì mấy cua
tay áo…(Thơ trên đèo - Qua đèo Pha
Đin)…
Kể
từ cái ngày lên Điện Biên cách nay hơn hai chục năm, Du An đã coi Điện Biên là
quê hương thứ hai rồi. Có thể nói, ngoài những bài thơ viết về giáo dục thì,
một đề tài nữa, theo tôi là chủ lực (xét về địa danh), đó là những bài viết về
quê hương mới - một quê hương ăm ắp núi non hùng vĩ và, kì quan khám phá. 28/42
bài được viết về đất và người miền núi (một số bài nữa cũng gián tiếp lấy cảm
xúc ở Điện Biên), đủ cho ta thấy cái say đắm của Du An, cái trẫm mình của Du An
vào không gian, vào con người, vào cả sự đổi thay lẫn những cái ngô nghê; vào cùng
với tồn tại và mất mát; vào trong hiện thực, vào đến tương lai: Thầy về
Mường Ảng một chiều đông/ Phút ngỡ ngàng tầm cao của núi/ Tiếng gì líu lo trong
lời cô gái/ Tình yêu bắt đầu từ một sắc khăn piêu… (Thầy về Mường
Ảng). Người làm thơ quê tôi/ Đều muốn tên mình dưới cánh ban…/… Rồi
cả chục bài cùng nhau ra sừng sững/ Đọc lên thấy núi dựng quanh nhà (Hoa
ban - Thơ). Nắng mật ong như đang rót/ Mùa xuân bản Mển vào tôi/
Tôi hôm nay nghe tiếng hát/ Tình yêu hạnh phúc sinh sôi (Một lần
bản Mển). Còn bao nhiêu người như cha tôi nhìn thấy được?/ Bằng
rưng rưng đôi mắt Điện Biên (Đôi mắt Điện Biên). Có lẽ dễ hiểu
nhất, sâu sắc nhất cho cái thuyết “Xin người ban tôi làm con của núi” của Du An
là: Rượu bản về mình vẫn còn say/ Cái bắt tay nồng nàn mắt lửa/ Anh Lả,
chị Phanh… có còn ai đó/ Người quen tôi vẫn điểm danh tôi? (Điểm
danh bạn bản)…
***
Chúc
mừng Du An sau hơn hai mươi năm làm thơ, vì cuộc sống, vì cả những điều chưa
tiện nói về cơ chế VHNT… cuối cùng, anh cũng cho ra mắt bạn bè tập thơ đầu tay
của mình. Và hơn thế, là sự gửi gắm đến bạn thơ một góc quan sát riêng theo
phong cách Du An về giáo dục vùng cao, với khẩu khí tưng tửng, bút pháp chơi
chơi, không hề gò ép, không qui tắc thơ, mà đều đều, gần gụi, thương thương và
đôi khi là vụt buồn, vụt đau rồi vụt vui… . Ngoài ngôn ngữ thuộc về hàng… nghề
nghiệp ra, Du An cũng có thứ ngôn ngữ, vẫn nói vui là “Đang hiếm dần trên đỉnh
núi”: Bếp lửa cháy một mình không uống rượu (Đêm nhà sàn); Ba
bốn năm lần lỗi hẹn/ Tưởng sắp thành người gió bay (Một lần bản Mển); Thở
đằng lưng lu cở Pú Cai…/ Ai cầm núi như cái áo đầy mồ hôi mà vắt/ Núi vặn như
cái lạt giang non không đứt (Pú Cai)...
Điểm
danh bạn bản nói riêng, thơ Du An nói chung, cần đọc
ý chứ không đọc lời. Cách nói tắt, nói cộc, nói nửa chừng theo kiểu “người
khôn” chính là cái làm tôi nhớ Du An và nhớ thơ anh. Ai đã cầm trên tay Điểm
danh bạn bản, nếu không cùng quan điểm, xin coi như một lần thực tế bằng
thơ, không suy ngẫm thì tham khảo, một góc riêng, một miền thơ riêng. Thơ Du
An./
Nơi
đầu tiên Du An đặt chân lên Tây Bắc, 04.08.2011

Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét