Chỉ
nói như thế thôi thì thật chưa chính xác. Theo trưởng Bản Bua, xã Ẳng Tở (Mường
Ảng) Quàng Văn Nhật thì, toàn bộ nguồn thu nhập tháng ba ngày tám (chủ yếu từ
tháng 9 năm trước - tháng 4 năm sau) của nông dân là đi làm công cho các trang
trại cây công nghiệp trong vùng. Nhờ cơ chế gọi mời đầu tư mà đất trọc ngày
được phủ xanh, mạng lưới đường xá ngày được mở rộng, và đặc biệt là đời sống
ngày một thay đổi...
Cây
công nghiệp về bản
Bản
Bua vốn là “thủ phủ” của cây công nghiệp từ thời Nông trường Quốc doanh Mường
Ảng, thập niên 80 của thế kỉ XX, khi quản lý tới 530ha trẩu. Sang đầu thế kỉ
XXI, trẩu vẫn còn trải một thảm hoa trắng biếc núi rừng, với diện tích quy đông
đặc là 187ha và cho những mùa quả làm no ấm đến từng hộ trông coi, bảo vệ. Tuy
nhiên, giai đoạn này cũng chính là thời điểm cuối của vòng đời cây trẩu, vốn đã
trên 20 năm tuổi. Một phần ba diện tích bị rỗng gốc do mối ăn, chết bán thân
rồi tự đổ. Số còn lại già nua, cằn cụt do bị tầm gửi xâm thực, cành lá mòn vào
đến thân cây.
Người
ta chứng kiến một cuộc bùng nổ về phá rừng trẩu lấy cột nhà, xẻ gỗ, bổ củi bán.
Gỗ trẩu chẳng hơn gì gỗ bo, gỗ gạo, nhưng được ngâm bùn, lại trong bối cảnh
chẳng còn lấy một loại gỗ rừng nào, thì bỗng được xem như bí quyết nhà cao cửa
rộng. Nhưng làm nhà thì được, bán gỗ chẳng ai thèm mua. Củi trẩu cũng khói
nhiều hơn lửa, nên khổ cực nhiều hơn thu nhập. Đất trẩu nằm trong danh mục đất
kinh tế nên bị cấm khai hoang. Quỹ canh tác ít ỏi, gồm 22,8ha lúa nước và 97ha
nương lúa, ngô, sắn bạc màu, không đủ chia đều cho 252 hộ dân, với 1.087 khẩu
ngày 2 bữa gọi là chống cồn ruột.
Hàng
trăm hécta rừng bị triệt hạ trong vòng vài năm. Đời sống người dân lâm vào cảnh
bốn mùa vập mặt xuống đất mà vẫn không nên hạt thóc. Chính quyền huyện
Tuần Giáo (cũ) chỉ đạo Lâm trường Tuần Giáo, ngoài 64ha rừng có khả năng tái
sinh cần được khoanh vùng bảo vệ, phải nhanh chóng giải phóng một lượng lớn
diện tích trẩu (130ha) sang trồng rừng kinh tế (keo, thông, dổi, mỡ...) vừa để
bảo đảm độ che phủ vừa tạo công ăn việc làm, tiến tới tăng thu nhập cho dân.
Một số nữa, cả được quy hoạch lẫn chưa được qui hoạch, chuyển đổi sang trồng
cây cà phê theo chiến lược phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp của
tỉnh. Số rừng trẩu “đã hết hạn khai thác” còn lại được người dân hạ xuống theo
sự cho phép tận thu củi của Lâm trường Tuần Giáo; để rồi sau, dân tự do trồng
sắn, ngô, lúa... cứu đói. Đến năm 2009, một số diện tích nữa được bàn giao cho
Công ty cao su Điện Biên để đóng góp vào vùng cây công nghiệp trên 200ha loại
cây được mệnh danh là “vàng trắng” này.
Bản
Bua bắt đầu một cuộc “đấu khẩu” giữa dân với chính quyền, giữa chi bộ Đảng với
chính quyền các cấp, rằng lấy hết đất thì dân sống bằng gì... Cuối cùng, bằng
nhiều minh chứng khả dĩ, cây cà phê (57ha), cao su (12ha) vẫn được đưa vào
thông qua việc chuyện nhượng của các hộ cá thể, không những không làm dân chết
vì mất đất, mà nhờ đất phát huy hiệu quả tốt, nên đã tạo ra hàng chục ngàn công
lao động cho những nông dân nhàn rỗi, vốn chưa bao giờ biết đến thu nhập thêm
là gì.
Thu
nhập phụ trở thành thu nhập chính
Trước
kia, cả tháng họa hoằn có người nhận một vài buổi làm thuê việc vặt như đào
đất, vét ao... gọi là thu nhập phụ. Giờ thì việc nhà lại kể như nháng một cái
là xong, còn lại là đi làm mướn. Bất kể nắng hay mưa, cứ đến Bản Bua là được
chứng kiến cảnh người dân tấp nập kéo nhau đến các trang trại cà phê, cao su
trong khu vực để làm việc. Theo dự trù kinh phí kinh doanh của hầu hết các
trang trại thì cứ mỗi ha cà phê, một năm phải tốn trên dưới 40 triệu đồng cho
làm cỏ, tỉa cành, phun thuốc, thu hái, chế biến, bảo vệ... ấy là chưa tính đến
cứ mỗi trang trại là một quần thể xây dựng khép kín: chuồng trại, nhà ở, kho
bãi, sân phơi, đường, điện, nước và các công trình phục vụ sinh hoạt... phải
thuê mướn lao động sở tại. Tạm đem 40 triệu nhân với 57ha thì ít nhất, cũng đã
có số tiền là 2 tỉ 280 triệu đồng tiền thuê nhân công. Cộng với khoảng non 1 tỷ
tiền phải thuê mướn của 12ha cao su nữa thành ngót 3 tỉ trên năm (khoản thu
chắc chắn đã nhìn thấy, cao gấp mấy chục lần nguồn thu từ ruộng nương tại chỗ).
Tuy
nhiên, theo nhiều chủ trang trại thì nhiều công đoạn lao động, người dân bản
địa không đáp ứng được đòi hỏi kỹ thuật, vẫn buộc phải thuê nhân công nơi khác.
Đây cũng là nỗi lo của chính quyền huyện, được thể hiện trong bài Giới thiệu về
dân số và lao động huyện Mường Ảng (đăng ngày 26.01.2010 trên Cổng thông tin
điện tử huyện Mường Ảng): “Chất lượng nguồn nhân lực của Mường Ảng hiện nay còn
thấp so với các địa phương khác, tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2008 chỉ
chiếm khoảng 20 - 21%… Nhìn chung nguồn nhân lực của Mường ảng hiện còn rất
nhiều bất cập cả về số lượng cũng như chất lượng và cơ cấu. Với thực trạng này,
lao động của Mường Ảng chưa thể đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
của huyện cả hiện tại và trong tương lai”.
Đấy
là những đánh giá chung mang tính vĩ mô, còn thực tế đối với lao động nông
nghiệp thì, đàn ông người địa phương nói chung, Bản Bua nói riêng không bao giờ
đi giẫy cỏ thuê, kể cả là trong nhà con ốm, gạo hết - một công việc vừa nhàn,
vừa chắn và vừa nhiều. Họ cho đó là việc của đàn bà. Vì thế mà phần lớn các
trang trại phải huy động nguồn nhân công là phụ nữ từ các bản, xã lân cận; thậm
chí là rất nhiều người ở khu vực Nà Tấu (huyện Điện Biên), Chiềng Sinh (huyện
Tuần Giáo)... đến làm việc. Nói như vậy để thấy, mặc dù việc làm có thừa, nhân
công nhàn rỗi cũng có thừa, nhưng người lao động vẫn để công việc - tức là cơm
áo gạo tiền - chảy một cách lãng phí ra ngoài địa phận bản, xã.
Giấc
mơ bản xanh của ông giáo già
Hiện
tại, theo trưởng bản Quàng Văn Nhật, Bản Bua vẫn còn khoảng 30ha đất trống
không mấy phát huy hiệu quả. Khoảnh đất này Lâm trường Tuần Giáo và Sở Lâm
nghiệp đã quy hoạch để trồng rừng kinh tế từ năm 1997, với hình thức trồng xong
ba tháng thì giao lại cho dân, sau đó hỗ trợ mỗi khẩu nhận rừng 15kg gạo/tháng
cho đến khi rừng có thu nhập. Thế nhưng, cho đến nay khu rừng này đã không được
trồng như mong muốn. Người dân phản đối, chi bộ phản đối... vì muốn dành vùng
đất đó để canh tác. Tuy nhiên đất ngày càng bị rửa trôi do chủ yếu trồng sắn,
bao nhiêu màu lột lên sau mỗi mùa thu hoạch là bấy nhiêu màu bị nước mưa cuốn
về xuôi. Nếu có dải rừng ấy, vừa khắc phục hiện thực trên, vừa gián tiếp đem
nước về cho mấy khe cạn, ảnh hưởng tích cực đến hơn 80% ruộng nước đang thiếu
nước nghiêm trọng của bản.
Vốn
là một giáo viên đứng lớp từ 1966, đến 1983 ông Nhật được Nông
trường Mường Ảng xin tỉnh về làm quản lý đội sản xuất,
phụ trách Bản Bua, Bản Tọ và Đội 8, trồng, quản lý và khai thác 530ha trẩu. Kể
từ đó, cuộc đời ông gắn với rừng, với môi trường và khí hậu trong lành của
thiên nhiên. Vừa là đội trưởng sản xuất, vừa là Bí thư chi bộ, ông luôn lăn lộn
cùng công nhân để cho rừng ngày một vắt mình vì “màu xanh” của cả người lao
động. Từ ngày ông nghỉ hưu (năm 2000), rừng cũng dường như biến dần vào ký ức.
Những lúc ấy, ông hướng mắt về phía những quả đồi trọc nhức nhối, mà âm thầm
khóc cho rừng, khóc cho sự gắn bó của ông với rừng. Khi biết được chủ trương phát
triển vùng cây công nghiệp, ông lặn lội lên xã, lên huyện để đánh tiếng gọi mời
các nhà đầu tư vào giúp ông, biến giấc mơ xanh của ông thành hiện thực. Nhiều
người phản đối ông, cho ông là “rước trộm vào chuồng lợn”...
Giờ
thì khác rồi, họ đã công nhận cái nhìn xa trông rộng của ông. Màu xanh đã trở
lại trên hàng trăm mỏm đồi. Hàng chục con lạch khô cạn cũng đã có tiếng nước
reo róch rách. Trên địa bàn bản hình thành cả chục con đường mới, đi vào những
khu kinh tế, do chính những chủ trang trại bỏ tiền ra mở. Người dân đi nương
bằng xe máy, chở nông sản bằng xe máy... không còn cảnh lóc cóc gánh bộ cả
tháng mới xong một nương lúa, nương sắn nữa...
Mường
Ảng, hè 2011


Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét