Bỏ dở cuộc
họp chuẩn bị cho công tác giao - tuyển quân 2003 - 2005, Chủ tịch UBND xã
Chiềng Bôm (Thuận Châu - Sơn La) Hà Văn Bình “thách thức” tôi qua dây nói của
Bưu điện văn hóa xã: “Dự án phát triển kinh tế Chiềng Bôm đã đón hàng chục đoàn
công tác tỉnh, huyện; 6 đoàn trung ương lên rồi. Nhà báo thì chưa. Anh thấy cần
thì vào… Với điều kiện dân tôi phải no lên!”
Mặc dù nhỡ bữa, câu
“khiêu khích” ấy khiến tôi rời Thuận Châu bằng chiếc xem ôm hiệu Minxk ngay sau
khi buông ống nói xuống. Nghĩ bụng vào, thể nào ủy ban chẳng cho xin bữa cơm,
ai ngờ, vượt 9km đường “cân não” bởi gã xế bản địa đèo như đèo gỗ, vào tới nơi
đã bị Chủ tịch xã lôi thốc đi. Bằng tâm trạng của người đang bị đói, tôi đã
nhìn thấy…
Những cuộc sống… ôi
trời!
Đi được chừng 1km, thấy một người
thanh niên dân tộc Kháng có nước da xanh bủng, ngồi ôm cửa sổ nhìn vô định vào
thinh không một cách nhàn rỗi, tôi rủ anh Bình vào, anh giới thiệu: “Đây là bản
Pọng, trung tâm VH-KT-CT của xã, tôi muốn đưa anh đi Ít Cang, Nà Tắm, Tỉn Khem…
xa hơn chục km, đi Hua Ti A, Hua Ti B, cách trụ sở 24 km mới thấy hết cái đói
của dân tôi”. Tôi không đáp, mà đi thẳng lên nhà anh Lò Văn Piềng, 20 tuổi.
Ngay đầu sàn, chị Lò Thị Bánh - vợ anh Piềng - lưng địu con, tay mài những củ
sắn ra thành sợi, chuẩn bị cho bữa ăn tối. Bên cạnh chị, cháu Lò Thị Việt, 4
tuổi, không nén được cơn đói xuống đã “dùng bữa” trước bằng một củ sắn tía (ảnh
1), “êm - mẹ” mới chỉ gọt sơ sơ lớp vỏ đen, khiến tôi rùng mình nhớ lại chuyện
hồi bé ở nông trường Chiềng Sung (Mai Sơn - Sơn La). Một con bò đực xê-bu
(giống do Cu Ba cung cấp) của đội chăn nuôi, vượt rào vào sân kho, gặp đống sắn
tía - giống sắn năng suất nhất, chống chịu nhất, mà cũng nhiều chất độc
mê-ti-lin nhất Tây Bắc - con bò như vớ được ruộng lúa con gái giữa mùa cỏ khô,
ních một bụng căn. Đúng lúc con xê-bu ngửa mặt lên giời tận hưởng sự sung
sướng, thì cũng là lúc nó hộc lên và hắt ra hơi thở cuối cùng. Đội mất sắn, đội
mất bò sầm sập kéo nhau đi kiện. Giám đốc nông trường phải chọn giải pháp,
phanh con bò ra chia đều cho tất cả, bởi nhẽ xưa nay cũng chỉ có con kiến mới
kiện nổi của sắn(!)
Trước mắt tôi hôm nay không phải là
con xê-bu tai to, nặng hàng tấn, mà là một bé gái có thể trạng sức khỏe kênh…c
(!) Mà không riêng gì cháu gái ấy, bất kì ai ở Chiềng Bôm đều có khả năng biến
mê-ti-lin thành dinh dưỡng, mà chẳng cần người nào rỗi mồm khuyến cáo cả. Tôi
quay qua hỏi anh Piềng, vì sao mà anh nhàn rỗi thế, anh trả lời: “4 khẩu nhà
mình có vài trăm mét đất, vợ chồng làm 1 tháng là xong cả năm. Ở Chiềng Bôm
chẳng có việc gì làm ra nổi 1 nghìn…”. Theo anh Piềng, cả vụ “trên” lẫn vụ
“dưới” cũng chỉ thu về khoảng 50 kg thóc và 2 tạ sắn tươi mỗi năm. Nếu mỗi ngày
thường ăn 2 bữa, mỗi bữa 2 bát 100% sắn không, 50-60% sắn độn vào các ngày lễ,
tết thì 4 khẩu nhà anh cũng chỉ tằn tiện đủ 100 ngày; còn 265 ngày nữa, đành
nhờ vào sự rủ may đang đón chờ ngoài ngõ. Ngày xưa thì có lá rừng, nay lá rừng
được giao về từng hộ, mà cũng đã trụi lụi bởi cái bụng của họ rồi.
Tiếp tục theo chân Chủ tịch Bình đến
với Ít Cang, Nà Tắm, Tỉn Khem, Bản Có, Bản Lịu… - nơi toàn người “rỗi việc” như
vợ chồng anh Piềng - tôi thật không dám tin vào mắt mình nữa. Mới chỉ sau vụ
gặt hơn 3 tháng, vụ dỡ sắn 2 tháng mà nhà nào nhà nấy đã lâm vào cảnh “treo
niêu” dài hạn. Trong số 410 hộ (59,3%) đói nghèo - không có hộ giầu - đặc biệt
phải kể đến hàng trăm hộ như Cà Văn Téo (Bản Có), Lò Văn Khinh (Bản Lịu), Và Vả
Dế (Hua Ti A)… Vào trung tuần tháng giêng, quãng thời gian mà thiên hạ còn đang
xúng xính trong những bộ hội phục, ăn cái tết to nhất năm, tiêu đồng tiên dư dả
từ những lam làm năm cũ, thì Và Vả Dế mình trần chân đất, đạp hơn 30km đường
núi xuống Phòng TB-XH huyện xin gạo về cấp cứu cho 8 khẩu của gia đình. Còn Cà
Văn Téo thì mang trọn bộ chăn màn quần áo được Nhà nước hỗ trợ khó khăn, đi đổi
sắn ngay sau khi nhận về từ tay cán bộ… Lò Văn Khinh thay vì mang số vốn vay
nông nghiệp 2,5 triệu đồng, gieo xạ xuống ruộng, thì lại đem gieo thẳng cả con
giống lẫn… phân bón vào trong dạ dày của 5 đứa con thơ với cặp rưỡi vợ chồng
già (1 chống 2 vợ); đến nỗi hạn trả ngân hàng đã phá lệ, gia hạn thêm 3 lần nữa
mà vẫn không có cách nào làm ra một đồng cắc(!)
Và, “đói do… trời”
Xã Chiềng Bôm, tiền thân là HTX Chiềng
Bôm đã từng khẳng định bề dày truyền thống trong việc phát triển kinh tế nông
nghiệp. Từ 1995 trở lại đây, chủ trương giao đất, rừng đến từng hộ thì “đời
sống người dân đi xuống hẳn” (do không được phá rừng nữa). Với 9.519ha diện
tích tự nhiên, ngoài 6.115ha rừng ra thì đất nông nghiệp chỉ còn lại vẻn vẹn
71,97ha ruộng (trong đó 45,41ha, chiếm 69,09% là ruộng một vụ), và 30 ha nương.
Với điều kiện đảm bảo của tự nhiên thì chỉ có 2 loại cây lương thực là thích
hợp và cho thu nhập tốt nhất. Như vậy, bình quân cho cả 4.495 khẩu của 691 hộ
chỉ còn 66m2 “đất khô”
và 160m2 “đất ướt”. Cứ
cho hạt thóc và củ sắn ở Chiềng Bôm có sản lượng đặc biệt, giá trị dinh dưỡng
đặc biệt và một mệnh giá đặc biệt thì đời sống của bà con cũng còn lâu mới đạt
“chuẩn 135” là 80.000 đồng/người/tháng. Theo báo cáo của “tiểu ban triển khai
vốn vay” từ năm 2000 trở lại đây, cả xã có trên 400 hộ, vay tổng số tiền là 1,1
tỉ đồng, gồm 3 loại: vốn hộ nghèo; vốn nông nghiệp và vốn hỗ trợ dân tộc khó
khăn, thì có tới 1/3 số hộ đó không có khả năng trả nợ gốc. Riêng lãi dự án,
tính đến 31.21.2002 vẫn còn đọng 192 triệu đồng. Nguyên nhân chính của việc sử
dụng vốn không hiệu quả, theo Bí thư Đảng uỷ xã Lò Văn Cu là do cuộc sống mất
cân bằng từ trước, một phần ăn vốn đi, một phần mua cây, con… về, đều không
sống, không lớn như mong muốn: “Chắc là do khoa học kĩ thuật!” (và liệu có phải
do bà con không có năng lực và không còn cả khả năng về tài chính để theo
KHKT?). Cuối cùng, hộ trả được thì “lấy nó trả nó”, hộ không trả được là do…
không trả được… Bí thư Cu kết luận: “Xong một dự án, một số trắng tay; còn một
số nghèo sâu hơn cũ, vì mắc thêm khoản nợ Nhà nước!”
Ở Chiềng Bôm, “đất cằn, nước lạnh, khí
độc”. Năm 2001, chỉ một đợt rét quét qua đã xoá sổ đàn dê hơn 70 con của anh
Lường Văn Diên trên Huổi Hưn (trang trại duy nhất ở xã). Còn một số bản vùng
cao như Hua Ti A, Hua Ti B; vùng sâu như Nà Khem, Nà Trạng… nuôi trâu, bò không
đẻ, hoặc 3-4 năm mới đẻ được một lứa, nhưng hầu hết là chết rét. Cả xã có 28 hộ
“tiến bộ” (4,05%), ngoài việc cày cấy còn tự tạo thêm bằng nguồn thu nhập dịch
vụ (xay xát, bán quán). Nhà anh Lường Văn Sáng, ngay sát cổng trụ sở là một
trong những hộ dịch vụ phát đạt nhất xã. Anh cho biết, mức thu nhập đều đều của
quán là… 2 ngàn đồng/ngày. Xay xát thì theo vụ, một năm nổ máy đều đều được hơn
2 tháng, bình quân cũng được chừng 20 kg/ngày, tương đương với 2 ngàn đồng,
chưa trừ tiền dầu, hao mòn và công đứng xát…
Tôi thắc mắc với Chủ tịch Hà Văn Bình
về một nguồn thu nhập khác mà có lẽ, do muốn “lăng xê” cái đói của xã mình nên
anh cố tình “chôn” nó, đó là 6.115 ha rừng. Trong số này gồm 4000 ha rừng đặc
dụng, 2.115 ha rừng gieo bay và trồng mới, bình quân mỗi khẩu được chia khoanh
nuôi bảo vệ (không có thu hoạch) là 8.896m2 rừng đặc dụng và 4.705m2rừng
tái sinh. Theo quy định về việc “sửa đổi” tiền trách nhiệm khoanh nuôi bảo vệ
cho chủ hộ rừng năm 2001 thì, mỗi ha “được” cắt giảm từ 21 ngàn đồng/năm xuống
còn 10 ngàn đồng/năm(!) Trăm sự chỉ tại cái… tưởng! Như vậy, nếu chăm chỉ và
làm hết mình, thập chí là quên mình trước hoả tai, tặc ta… thì mỗi khẩu dân ở
đây có nguồn thu nhập thêm, ổn định quyết không dưới 13 ngàn đồng nữa cho cả
một năm(?)
***
Hôm chúng tôi đến thì đoàn trung ương
thứ 6 (Bộ Lao động TBXH) vào khảo sát 214 hộ nghèo của 9/30 bản vừa rời khỏi
Chiềng Bôm. Với sự nghiêm túc trong công tác điều tra, và những lời hứa như dao
chém đá về một trung tâm thương mại cấp xã, đường, điện… hy vọng chẳng ai nhớ
đến cái ngữ tôi và câu thách thức làm no dân của Chủ tịch Bình. Lật quyển sổ
nghị quyết của xã, ngay trang bìa, một dòng chữ đỏ, rõ ràng như một dấu ấn,
đánh giá cao 2 công trình tỉnh Sơn La sắp sửa làm cho xã, đó là “Mô hình trình
diễn khuyến ngư 2003”, quy mô 3000m2 (trong tổng số 4ha mặt nước của cả xã)
cho 1 bản, với 6 hộ, do Công ty Thủy sản I Sơn La trực tiếp làm chủ đầu tư.
Công trình thứ 2 là “Thủy lợi Mỏ Nhộp”, sẽ mở ra cơ hội khai hoang thêm 20ha
ruộng nước, bớt đi phần nào cái đói bình quân 6 tháng/năm hiện nay của 410 hộ
đói nghèo ở Chiềng Bôm.
Trước khi rời khỏi xã… ôi trời! Tôi
tin tỉnh Sơn La, huyện Thuận Châu cũng như tất cả chúng ta đều hiểu, “nói
suông” bất cứ điều gì sẽ chỉ là sự xúc phạm tới truyền thống “thắt lưng buộc
bụng” của bà con ở đây.
Chiềng
Bôm, giêng 2003
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét