Ngã
ba Cò Nòi - nơi hơn 100 TNXP hy sinh khi phục vụ chiến dịch ĐBP. Công trình
được xếp hạng di tích quốc gia năm 2004.
Kỳ
1: Vinh quang “lửa thử vàng”
“Sau mỗi lần giải thể là một lần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!”. Đó là câu nói đầy tự hào của bất kì cựu TNXP nào. Trong suốt 2 cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mĩ và cả khi đất nước đã thống nhất, hơn 32.000 lượt TNXP của 5 lần thành lập đã đóng góp xương máu, trí tuệ, công sức để xây dựng Điện Biên xứng danh là vùng đất vững vàng nơi biên ải...
“Sau mỗi lần giải thể là một lần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!”. Đó là câu nói đầy tự hào của bất kì cựu TNXP nào. Trong suốt 2 cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mĩ và cả khi đất nước đã thống nhất, hơn 32.000 lượt TNXP của 5 lần thành lập đã đóng góp xương máu, trí tuệ, công sức để xây dựng Điện Biên xứng danh là vùng đất vững vàng nơi biên ải...
Những dấu mốc buổi đầu
Trong số 14.000 TNXP góp mặt ngay từ
ngày đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), thì 6.000 đội viên TNXP chuyển sang
quân đội, 8.000 người còn lại phục vụ chiến đấu từ ngã ba Cò Nòi (Mai Sơn, Sơn
La) đến chiến trường Điện Biên. Trong quãng thời gian giúp bộ đội mở đường kéo
pháo vào trận địa; vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí, tải thương, thu
thập và mai táng liệt sĩ..., hơn 400 cán bộ, đội viên TNXP đã anh dũng hy sinh
và được qui tập về hai địa điểm chính là ngã ba Cò Nòi và chân đèo Pha Đin
(cách thị trấn Tuần Giáo 9 km).
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng,
lực lượng TNXP đầu tiên được lệnh giải thể, để rồi ngay sau đó một đơn vị TNXP
được thành lập với mật danh “Công trường 111” trong thời kỳ cuối cuộc kháng
chiến chống Pháp (1954 - 1957). Ngoài đội TNXP Hồ Tùng Mậu từ Việt Bắc sang,
còn có 40 đại đội của 2 đội (đội 34 và đội 40), thuộc Đoàn TNXP Trung ương, do
đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác Hồ - chỉ huy. Đơn vị được giao nhiệm vụ
mở hơn 400km đường ô tô, gồm: Đường 4D từ ngã ba Pa So đến đỉnh đèo Hoàng Liên
Sơn; đường Hữu nghị 12 từ thị xã Lai Châu (cũ) đi cửa khẩu Ma Lù Thàng; đường
100 từ cầu Lai Vân - Phong Thổ đến cầu Nậm Cáy (ngã ba đường Hữu nghị 12)...
Hơn 12.000 đội viên không quản nắng mưa, bom đạn và sự quấy phá của các toán
thổ phỉ, để cuối năm 1957 trước khi nhận được quyết định giải thể do đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ, đã có hơn 100 TNXP ngã xuống vì tai nạn, ốm đau và bị
thổ phỉ sát hại!
Tưởng cũng cần nhắc lại một chi tiết
quan trọng mà bấy lâu báo chí không ai đề cập, là trong bối cảnh chiến dịch
Điện Biên Phủ vừa kết thúc, tuyến đường Hữu nghị 12 dài 82km là công trình lớn
đầu tiên của miền Bắc sau hòa bình lập lại, nối thị xã Lai Châu (cũ) với biên
giới phía Bắc. Khi thực hiện con đường chiến lược này, các đơn vị tham gia phải
đảm bảo yêu cầu giữ bí mật với Uỷ ban kiểm soát, giám sát Quốc tế về việc thực
hiện hiệp định Giơnevơ tại Việt Nam. Theo chủ trương của trên, lực lượng “Công
trường 111” chủ yếu là công binh, TNXP và một số đơn vị chủ lực cầu đường.
Nhưng sau đó, Chính phủ giao cho Bộ Giao thông Công chính quản lý, trực tiếp
chỉ đạo là Nha Giao thông, Trung đoàn 148 công binh rút đi làm nhiệm vụ khác,
lực lượng chủ yếu còn lại trên công trường là hai đội 34 và 40 đoàn TNXP với
quân số 7.000 - 8.000 người. Lúc cần thiết, ngoài 3 liên phân đội chủ lực cầu
đường với khoảng 500 - 600 quân, có thể huy động thêm dân quân địa phương theo
từng đợt ngắn hạn.
Mặc dù đất nước đã độc lập, nhiệm vụ
“hỏa tốc” của TNXP đã phần nào... hạ hỏa, nhưng đứng trước âm mưu của đế quốc
Mỹ nhằm thế chân Pháp tại chiến trường Đông Dương, năm 1958 Công trường 111
được tái thành lập. Thời kỳ này, hầu hết các tuyến đường và gần như 100% cầu
cống của Lai Châu bị không quân Hoa Kỳ phá huỷ. Với hơn 600 đội viên được tuyển
từ các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Nam Định và Thủ đô Hà Nội... một lần
nữa trên các cung đường rát bỏng Lai Châu, những đội viên TNXP lấy máu xương chống
lại bom đạn của kẻ thù. Nhiệm vụ của lực lượng tái thành lập này vừa sửa đường,
sửa cầu, làm ngầm, san lấp hố bom, phá bom nổ chậm...; vừa mở mới QL 42 (nay là
QL 279) Tuần Giáo - Điện Biên - Tây Trang với chiều dài gần 120 km.
Đơn vị TNXP thứ 3 được thành lập vào
giữa năm 1963 để phục vụ cho chiến lược phát triển nông nghiệp Lai Châu (cũ),
đó là Công trường đại thuỷ nông Nậm Rốm. Công trường này gồm 2.000 đội viên,
trong đó hơn 600 đội viên thuộc đội TNXP Tháng 8 Thủ đô; vừa làm nhiệm vụ đắp đập
ngăn dòng, đào mương, xây máng... vừa tham gia trực chiến phòng không mỗi khi
có máy bay Mỹ. Trong vòng 7 năm (1963 - 1969), bằng đôi vai trần và đôi chân
đất 2.000 con người đã hoàn tất khối lượng công việc khổng lồ, với một đập tràn
cao 11,6m, dài hết bề rộng của con sông; một tường chắn sóng cao 16m, dài 20m;
cống xả cát; 32 km kênh; 17 chiếc cầu máng... Nhờ có công trình này mà cánh
đồng Mường Thanh, từ hơn 2.000 ha ruộng một vụ nước trời tăng lên hơn 5.000 ha,
trong đó nhiều diện tích ba vụ (hai lúa, một màu); cải thiện năng suất 5 - 6 tạ
lúa nếp/ha lên 8 - 9 tấn, cá biệt đạt 10 - 12 tấn/ha. Trên hết là sự phát triển
vượt bậc và khẳng định vị thế của hạt gạo Điện Biên, trong nền nông nghiệp nước
nhà. Để góp phần làm nên những thành công vẻ vang và bi tráng ấy, có 18 đội
viên TNXP đã ngã xuống mà không kịp ngắm cánh đồng “nhất Thanh” nước mát tràn
bờ...
Khi Công trường đại thủy nông Nậm Rốm còn đang trong giai đoạn nước
rút, tháng 1.1969, Đoàn TNXP chống Mỹ cứu nước N233 ra đời và hoạt động qua 2
nhiệm kỳ (1969 - 1976). Đơn
vị này hầu hết là con em các dân tộc trong tỉnh, được trang bị vũ khí chiến đấu
và hưởng mọi chế độ như một đơn vị bộ đội chủ lực. Đoàn gồm 4 đại đội, làm
nhiệm vụ mở đường 128 từ Chiềng Chăn đi huyện vùng cao Sìn Hồ với chiều dài
90km. Năm 1970, chấp hành lệnh điều động của trên, 800 TNXP Đoàn N233 nhận
nhiệm vụ mới xây dựng hồ chứa nước Pa Khoang, với trên 400ha mặt thoáng, điều
tiết nước sông Nậm Rốm ổn định cho tới tận bây giờ. Trong quãng thời gian gần
chục năm xây hồ Pa Khoang, Đoàn N233 thực hiện 3 nhiệm vụ chính là lao động sản
xuất, huấn luyện quân sự sẵn sàng chiến đấu và học văn hóa. Đó quả là những năm
tháng vinh quang “lửa thử vàng”, đã tôi luyện, rèn giũa được nhiều cán bộ có
năng lực và phẩm chất tốt, làm hạt nhân trong các lĩnh vực quan trọng của tỉnh
sau này...
Bao giờ có một tượng đài?
Đương nhiên, đóng góp của lực lượng
TNXP cho tỉnh Điện Biên là cực kì to lớn và thật đáng trân trọng. Mặc dù không
ai thống kê nổi công sức của họ, chỉ biết mồ hôi và xương máu của hơn 700 đội
viên TNXP của cả hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, đã vĩnh viễn đổ xuống cho
Điện Biên và Lai Châu tươi đẹp muôn đời! Vậy nhưng, cho đến hôm nay, 59 năm sau
ngày lực lượng này được thành lập và hơn 55 năm kể từ ngày thành lập đơn vị TNXP
đầu tiên ở Lai Châu (cũ), thì phần đa các đội viên, liệt sĩ tiên phong và quả
cảm ấy vẫn chưa được tìm di cốt!
Đến nay, điều tri ân mà các đồng đội
còn sống có thể làm, là thiết tha đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh
hùng lao động cho Công trường đại thủy nông Nậm Rốm; công nhận liệt sĩ cho 7
đội viên bị bom Mỹ sát hại ngày 13.3.1966 khi đang thi công cầu máng bản Mé, xã
Thanh Chăn (huyện Điện Biên). Nhưng sau 3 - 4 lần đi về, cũng chỉ 3 người được
công nhận liệt sĩ. Cùng là xạ thủ đại liên và cùng bị trúng bom Mỹ, nhưng ông
Bùi Đại Dương được công nhận liệt sĩ còn ông Phạm Gia Văn thì không(?). Cũng
tương tự, 5 đội viên cùng bị bom Mỹ sát hại khi làm nhiệm vụ xây dựng cầu, 2
người được công nhận liệt sĩ còn 3 người (ông Nông Văn Mận (C trưởng), ông
Nguyễn Quí Thức và bà Nguyễn Thị Nấng) thì vẫn... “không đủ điều kiện”... Hơn
nữa, một câu hỏi làm buốt nhói tâm can những cựu TNXP còn sống nói riêng và hết
thảy chúng ta nói chung, rằng bao giờ Điện Biên có một tượng đài tưởng niệm các
TNXP, giống như Sơn La đã làm ở ngã ba Cò Nòi - Mai Sơn?...
Kỳ 2: Huyền thoại
trong những con
người huyền thoại
Trong thư khen bộ đội, TNXP, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc Lai Châu sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Nơi nào bộ đội đánh lớn là nơi đó có TNXP, bộ đội và TNXP như hai anh em. Chúng ta không bao giờ quên sự hy sinh to lớn của bộ đội Cụ Hồ, cũng đừng bao giờ quên sự cống hiến và hy sinh của TNXP. Không có TNXP thì bộ đội không thể hoàn thành nhiệm vụ”…
Cả
cuộc đời... xung phong
Điện Biên là mảnh đất của những huyền
thoại và một trong số “huyền thoại sống” là ông Ngô Xuân Khôi - Chủ tịch Hội
cựu TNXP Điện Biên. Năm 19 tuổi ông Khôi tham gia Cách mạng Tháng Tám với tư
cách là cán bộ Huyện ủy Hưng Nguyên (Nghệ An), năm 1952 ông được cử làm đại đội
trưởng TNXP Nghệ An, phục vụ chiến dịch Thượng Lào. Giai đoạn này đánh dấu tình
đoàn kết chiến đấu keo sơn của nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và Cam pu
chia, sau Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương tại Chiêm Hóa,
Tuyên Quang tháng 2/1951. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ: “Dân tộc Việt Nam đoàn kết
chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào và hết sức giúp đỡ hai dân tộc ấy cùng nhau
kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông
Dương”.
Chuyến “xuất ngoại” ấy là dấu ấn, là
“bước dẫn” cho cả cuộc đời xung phong ra nơi hòn tên mũi đạn của ông Khôi.
Chiến dịch Thượng Lào (13/4 - 14/5/1953), liên quân Lào - Việt được nhân dân
các bộ tộc Lào đùm bọc, giúp đỡ đã diệt 1/5 tổng số binh lực địch tại Lào
(2.800 tên); giải phóng hơn 30 vạn dân các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng và Phoong
Xa Lỳ. Trở về nước, ông Khôi được giao chỉ huy Đại đội TNXP 307, thuộc Đội 34,
Đoàn TNXP Trung ương, lên đóng quân ở km 376 (QL 6), cách đỉnh đèo Pha Đin 10
km về phía Sơn La, nhằm đảm bảo giao thông cho cả con đèo trong chiến dịch Điện
Biên Phủ. Tại đây, trong 48 ngày đêm máu lửa, những TNXP gan vàng dạ sắt vừa
lao động vừa chống lại hàng ngàn tấn bom đạn giặc Pháp điên cuồng trút xuống, hòng
cắt đứt mọi sự chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng,
ông Khôi lại cùng Đội TNXP 34 lên Công trường 111 mở đường 4D, đường Hữu nghị
12, đường 100… Lực lượng TNXP giai đoạn này chủ yếu là con em nông dân, những người
có trình độ học vấn cấp II trở lên được gửi đi học tại các nước Đông Âu, số còn
lại quay về địa phương. Năm 1956, bằng uy tín của một cán bộ chỉ huy, ông Khôi
dẫn 2 đại đội 55 và 56 TNXP miền Bắc, đi xây dựng nhà máy chè Hạ Hòa (Phú Thọ).
Sau đó, ông trở về làm cán bộ giáo vụ, Trường Thanh vận Trung ương (Trường đoàn
Trung ương rồi Học viện Thanh niên bây giờ). Học viên là những bí thư, phó bí
thư huyện đoàn tương lai, vốn là các đội trưởng, đội phó, đoàn phó… có công
trong cải cách ruộng đất. Ông Khôi làm nhiệm vụ giảng, theo dõi học viên thảo
luận (khóa 2 - học 8 tháng), được hơn 3 tháng thì khóa học giải thể. Về Hải
Phòng làm thường vụ thành đoàn vài tháng, ông Khôi lại chỉ huy 3.000 TNXP đi
hàn gắn đê Mai Lâm (Gia Lâm - Hà Nội)…
Ông Ngô Xuân Khôi và anh Vũ Quang Huyền
đang bàn giao danh sách điều tra cựu TNXP huyện Mường Chà.
Năm 1962 ông Khôi được điều lên Tỉnh
đoàn Lai Châu công tác, trực tiếp tham gia chỉ huy tại Công trường đại thủy
nông Nậm Rốm. Tưởng sau bấy nhiêu cống hiến là có thể trở về làm… dân, tháng
1/1969, ông lại được động viên giữ chức Đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy, Chính trị
viên Đoàn TNXP chống Mỹ cứu nước N233 (1969 - 1976) làm đường lên huyện vùng
cao Sìn Hồ và xây dựng hồ chứa nước Pa Khoang. Đây là đơn vị TNXP cuối cùng ở Lai
Châu và cũng là đơn vị cuối cùng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Và những điều day dứt...
35 năm phục vụ cách mạng, thì có tới
24 năm ông Khôi cùng lực lượng TNXP đi qua 7 Chiến dịch, Công trường… ở các địa
phương, cả trong và ngoài nước. Ông xúc động: “Cái phúc lớn nhất trong cuộc đời
xung phong của chúng tôi, đó là hơn 700 đồng đội đã hy sinh cho chúng tôi được
sống”. Trải qua bao nhiêu gian khổ, hy sinh ông Khôi vẫn may mắn vẹn nguyên
ngoài vài lần tự ngã xe máy ở cái tuổi 80, mà cũng lại là trên đường đi làm
nhiệm vụ. Năm 1980 ông Khôi về hưu vì vợ ông ở nhà quá khổ, quá nghèo. Với 43
đồng bạc lương, bà phải bươn chải nuôi 5 con, 2 cháu mồ côi và 1 mẹ già. Cái
danh thơm “huyền thoại TNXP” của ông chỉ giúp bà thêm… lo hơn trong cuộc sống.
Bằng tinh thần TNXP, gia đình ông Khôi đã phấn đấu trở thành “3 chi bộ nhỏ”. Cả
con, cháu, dâu, rể… nhà ông có: 1 phó giáo sư - tiến sĩ giảng viên đại học; 7
sĩ quan Công an từ thiếu úy tới trung tá; 1 cán bộ HĐND tỉnh; 1 giáo viên THPT;
1 phó phòng tài chính huyện… Việc nhà như thế cũng tạm coi là: “Hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ bà giao!”, nên năm 1998 ông Khôi và một số anh em cựu TNXP nhiệt
huyết đã xin thành lập Ban liên lạc cựu TNXP Lai Châu.
Mãi đến tháng 12/2007, mới tổ chức
được đại hội lần thứ I, chính thức thành lập Hội cựu TNXP tỉnh Điện Biên; nhưng
thực tế vẫn là nơi đi, về của cựu TNXP cả 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu. 11 năm
làm trưởng ban rồi chủ tịch hội, ông Khôi chưa nhận được một chế độ gì của Nhà
nước. Dù thế ông vẫn nói: “Vì đồng đội, cả người sống và người đã khuất, tôi sẽ
làm đến khi nào còn làm được”. Vẫn biết vợ con, bạn bè… không ai muốn ông một
mình một xe máy, ngày nào cũng “lông nhông” trên đường vào cái tuổi 83 nữa.
Ngoài 3 nhiệm vụ chính là đoàn kết TNXP; phát động thi đua sản xuất, xóa đói
giảm nghèo; thực hiện chế độ tồn đọng sau chiến tranh. Theo ông Khôi, vẫn còn
hơn 500 hồ sơ nữa chưa được giải quyết chế độ, điều đó khiến ông chưa thể yên
lòng. Trong buổi làm việc, chúng tôi gặp anh Vũ Quang Huyền cán bộ Huyện đoàn Mường
Chà, đến nộp danh sách 88 cựu TNXP mà anh điều tra giúp tại 10/15 xã, thị trấn
của Mường Chà. Ông Khôi ước đoán toàn tỉnh hiện còn trên 4.000 hội viên TNXP,
mặc dù đã 11 năm ban liên lạc chưa có cách nào tìm được đầy đủ những đồng đội
sống chết một thời!
Ở vào cái tuổi xế chiều, ông Khôi vẫn
“ăn cơm nhà vác 3 chức vụ”: Chủ tịch kiêm văn thư và liên lạc Hội cựu TNXP tỉnh
Điện Biên! Căn phòng hơn 10m2 được
Tỉnh đoàn cho mượn làm trụ sở hội, vẫn thường xuyên mở cửa. Tại đây, có một ông
già xứ Nghệ đã đi qua 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, bây giờ ngày ngày ngồi
đợi để được tiếp đón những đồng đội cũ của mình. Một ước nguyện làm ông đau đáu
khoé mắt mờ và trái tim mệt mỏi, rằng mong sao tìm lại được phần di cốt của hơn
150 đồng đội mà trước đây chỉ có thể mai táng trong những tấm chăn chiên sờn
rách, ở “rừng TNXP” dưới chân đèo Pha Đin? Trong niềm xúc cảm rưng rưng, ông
bảo đó là “món nợ” đối với những người còn sống, đối với những thế hệ sau - Một
“món nợ” làm day dứt lương tâm và trách nhiệm của tất cả chúng ta...
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét