“Nhà nước làm không giống Nhà
nước nói, chẳng cần tìm ở đâu xa, nhà báo cứ nhìn công trình bản tôi là biết”.
Nghe trưởng bản Thồ Lộ (Ẳng Tở -
Tuần Giáo) Lý A Cá dỗi hờn Nhà nước mà thấy dâng lên niềm trách cứ vô hạn tới
một bộ phận người đại diện cho Nhà nước đang ngày đêm làm những việc phương hại
lớn đến uy tín của một quốc gia xưa nay vẫn theo đuổi mục đích vì dân…
Nước sạch
thành… hỏng sạch
Nhận được phản ánh của bà con dân bản
Huổi Háo (Ẳng Tở - Tuần Giáo) là lặn lội đến ngay, sớm với mình nhưng với bản
thì đã muộn tới 15 tháng kể từ ngày Dự án nước sinh hoạt (NSH) ở đây khánh
thành 21.7.2005. Thống thiết thay cho những người Mông nghèo khổ được Nhà nước
xếp hạng 500 bản đặc biệt khó khăn. Trước đây vấn đề NSH chỉ được hiểu nôm na
là nước ăn, dù phải đi hàng cây số mới vác được ống nước về nhưng còn có nước
mà vác, từ ngày có dự án thốt nhiên suối rỉ rách đi đâu không biết. Chắc tại
cái nguồn xây hứng hết nước để vãi ra rừng. Khe Hó Đệ trở nên nhỏ giọt cả về
mùa nước trời ồ ạt. Theo bản thiết kế công trình NSH Huổi Háo trị giá
290.000.000đ của tác giả Ngô Cương Quyết - cán bộ Phòng Nông nghiệp Địa chính
Tuần Giáo (NNĐC) - nay là Phòng Tài nguyên Môi trường - thì Huỏi Háo có 2 nguồn
cấp nước, là: đầu mối lấy nước cụm 1, gồm 1 bể lọc chậm đầu mối và 4 bể chứa có
dung tích 5m3/bể; cụm 2, gồm 1 bể đầu mối và 1 bể chứa 5m3 mà trong thiết kế gọi là bể số 5. Cả
hai đầu mối đều dùng loại ống dẫn HDPE Class 4 phi 40 và 20; toàn tuyến có tổng
cộng 1.255m ống dẫn các loại. Công trình có nhiệm vụ và năng lực cung cấp NSH
cho 210 người với chỉ tiêu mỗi người đạt 80 lít/ngày đêm tới năm 2024. Hiện
thời Huổi Háo có 144 người, cứ theo tỷ lệ tăng dân số bình quân trước nay của
bản là 2% thì 18 năm sau công trình vẫn… chạy tốt, do cấp độ thiết kế cấp V của
công trình đạt TCVN 5060 - 90; với tần suất cấp nước P = 90%, đáp ứng mọi tính
toán về thủy lực... Tuy nhiên đấy là trách nhiệm và sự mong mỏi của Phòng NNĐC
Tuần Giáo, còn về phía Doanh nghiệp xây dựng tư nhân Đoàn Lân (DNĐL) - đơn vị
chịu trách nhiệm thi công công trình này lại khác. Thiết kế là chuyện của thiết
kế, họ chỉ xây 4 trong tổng số 5 chiếc bể chứa của dự án (thiếu bể số 5), để
khi tiền lĩnh đủ 100% tổng mức kinh phí đầu tư là lập tức “bỏ của chạy lấy
người”; mặc xác quy định bàn giao công trình cho xã, mặc xác cả 35 bao xi măng
hiệu Bút Sơn bớt được, chất đống tại nhà công an viên Vàng A Chua (ảnh1), mà
theo trưởng bản Huổi Háo Vàng A Chứ và an ninh viên Vàng A Ly cho biết là “cán
bộ Hải” sau nhiều lần “động viên” dân bản mua để anh ta tiện tay giúp làm luôn
nền nhà, chuồng lợn… nhưng không ai có tiền. Chủ tớ khi tháo thân vẫn không
quên ngoảnh cổ lại, ký thác ân cần khối tài sản ăn không trôi ấy, hơn năm trời
nay tiệt không quay lại. Đống xi măng 31 bao chết đơ như đá (trong đó 2 bao bị
mất trộm, 2 bao khác được dân bản lấy đi vá víu vô vọng những lỗ thủng, những
vết nứt, xé của cái công trình không có chất lượng kia). Chiếc bể lọc chậm đầu
mối là quyết định cho hiệu quả cả dự án, vậy nhưng về mùa mưa nước lớn đã đành
rò không kịp chứ mùa khô, nước cứ nhẹ nhàng lách xuống dưới gầm ngăn thứ 2 mà
bốc hơi vào trong lòng đất; ngăn lọc thứ 3 nối liền với ống dẫn nước về bản khô
nỏ như củi phơi, tuyệt không có một giọt nước nào nhỉ ra cả(?)
Không riêng Huổi Háo, cả dự án NSH bản
Thồ Lộ với số vốn đầu tư 239.824.064đ (Nhà nước 218.273.454đ; nhân dân
21.550.610đ đóng góp bằng tiền, bằng công đào đường ống, khuân vác…) cũng đang như những tấm bia miệng nói
lên tất cả sự đục khoét vô độ của DNĐL. Dự án này cùng thi công một lượt với
Huổi Háo, và cũng do Phòng NNĐC Tuần Giáo thiết kế (tác giả Phạm Thị Tuyên).
NSH Thồ lộ được thiết kế ở 2 khu. Khu A gồm 1 đầu mối dạng kênh thu nước, và 3
bể chứa có dung tích 6m3/bể, dùng 350m ống dẫn HDPE 40, 100m HDPE
20; khu B dùng 500m HDPE 20 thay thế máng tre truyền thống, dẫn về 7 bể cũng có
dung lượng 6m3/bể. Tuy nhiên khi đến tay Đoàn Lân thì khu Thồ Lộ B
chỉ có bể, còn việc lấy nước ở đâu là chuyện của… trời(!) Theo nhân dân bản Thồ
Lộ, các cán bộ thợ xây đã thuê 4 người khiêng lặc lè quận ống dẫn, vượt hơn 1
km vào rồi lại thuê khiêng ra và không ai nhìn thấy nữa. Dân hỏi thì cán bộ to
nhất tên Gióng trả lời là dự án không có ống, họ khiêng nhầm. Vậy là 7 chiếc bể
đựng… nắng hơn một năm nay trước sự xuống cấp nhanh như bị đập, vì vốn dĩ chất
lượng là chuyện muôn thuở của các công trình xây dựng. ở khu Thồ Lộ A, đúng như
lời dặn dò là khi cán bộ về 1 tháng cứ cho nước vào dùng, thì chỉ có 2 cái chịu
được, nhưng là mùa mưa nước vào to hơn nước ra, chứ về mùa khô thì còn lại 1
cái là tạm “cất được nước”.
Thắc mắc rằng, giám sát công trình đâu
mà để chủ thầu làm dơi làm chuột, 10 cái bể chỉ dùng được 1 thế, bởi theo chủ
trương chương trình 500 bản của Chính phủ như ở Thồ Lộ, Huổi Háo… thì chủ đầu
tư là UBND xã, mà cứ cho là xã ở xa, còn có trưởng bản, người thứ ba sau xã và
đại diện thi công (tên Lê Văn Học - cán bộ kỹ thuật DNĐL) ký vào rất nhiều các
biên bản nghiệm thu khối lượng từng công việc cụ thể mà chúng tôi tiếp cận. Ví
như thiết kế ở mục 8 là: Vữa trát thành bể trong mác 100, dày 1,5cm… vậy nhưng
trưởng bản Cá sau khi dùng móng tay bấu sồn sột lớp vữa ấy (ảnh 2), đã mếu máo:
“Mù xây dựng như chúng tôi, nhiệm thu là bảo sao nghe vậy. Thấy cán bộ làm cái
cất nước đẹp như chưa thấy bao giờ thì sướng rét người, càng ký nhiều càng
nhanh có nước mà”. Chưa hết, đại biểu HĐND xã Ẳng Tở Lý A Của còn cung cấp
thêm: “Anh cứ thử đập một bể ra xem, giữa hai hàng gạch không có cái này đâu
(tức vữa). Thấy họ cho ít ít xi măng, hỏi thì họ bảo bọn ngu chẳng biết gì, cho
nhiều để bể hỏng mất à, dự án này chỉ cần 3 năm thôi, sau đó Nhà nước đập đi
xây đường nước hiện đại về từng nhà”. Rồi còn cả đầu mối lấy nước nữa, theo
tính toán an toàn cho thời gian ngót 20 năm của công trình, của Phòng NNĐC Tuần
Giáo thì kênh thu nước nguồn phải có kết cấu bê tông cốt thép 200 #, đá 1x2
nhưng không hiểu Đoàn Lân là ma thế nào mà dùng được vài tháng nguồn đã tự
thủng một lỗ to như ngọn giang như thể để giải phóng áp lực vậy, nhân dân phải
nút giẻ cho nước khỏi phì ra mới đủ xả (ảnh 3).
Dự án… mất
lòng tin
Đã cuối mùa mưa song chúng tôi vẫn mất
3 giờ cuốc bộ do phải gửi xe máy dưới bản vùng thấp Tọ Cuông. ở 2 bản Mông này,
có là mùa khô thì những chiếc xe dệu dã vì đi vùng cao quá nhiều cũng khó mà
thắng nổi những con dốc dựng như vách ngăn giữa cao và thấp. ăn chực nằm chờ 3
ngày trời cũng không mong đã nhìn thấy hết những gì bà con người Mông trên 2
bản vùng cao Ẳng Tở trách giận Nhà nước. Lóc cóc lội bộ theo từng đoạn ống,
chui và từng chiếc bể và chứng kiến tận mắt việc bà con dẫn nước về, bể không
chứa được đành để vòi phun qua mặt suốt ngày đêm mà thấy buồn vô hạn. Thông lệ,
tất cả những sai sót, khi vỡ ra đều thuộc về tập thể. Nhưng ở công trình có số
vốn tuy nhỏ (gần 430 triệu) này, tấm lòng của Chính phủ đối với bà con dân tộc
thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa là vô bờ bến. Với Huổi Háo và Thồ Lộ - 2
bản thuộc diện đói nhất năm của xã 135 Ẳng Tở (theo tiêu chuẩn mới thì 2 bản
này đói 100%, đóng góp vào tỷ lệ dân số đói gần 90% cả xã) việc đảm bảo sức
khỏe cộng đồng trong sinh hoạt chưa chắc đã quý bằng việc có “nước gần”, mỗi
gia đình tiết kiệm được ít nhất một công/ngày vì vác nước, dành cho lao động
khác tăng thu nhập, giảm thiểu nạn đói 2 - 3 tháng mỗi năm. Sự quan tâm lớn lao
của Nhà nước được dân bản gọi là “làm không giống nói”, mà nhà nước gần nhất là
xã, rồi huyện, rồi tỉnh… không được bà con thông cảm vì bà con không cần biết
ai thay mặt Nhà nước làm những điều giả dối ấy. Thế là, chỉ bằng một thoáng
bàng quan của các cấp lãnh đạo, để lọt mắt những con mọt dân, ăn chặn của cả
những người bần cùng khố rách như bà con Huổi Háo, Thồ Lộ… thử hỏi cả huyện
này, tỉnh này có bao nhiêu công trình trở thành… công cốc mà vẫn chỉ có Nhà
nước mang tiếng xấu như ở công trình NSH Ẳng Tở(?)
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét