25 tháng 2, 2013

NƠI MỖI HỘ NGHÈO CÓ MỘT MÁY PHÁT ĐIỆN

       “Năm nào thì những ngày hè oi ả chả hóa thành gã phù thủy, chuyên “bắt” trẻ con dìm xuống nước. Quen làm mát bằng nước rồi. Dây điện lưới quốc gia vượt 24 km về xã đã 11 năm nay, vượt 2km từ xã về bản đã hơn 1 năm nay, nhưng dân chỉ được nhìn thôi”. Trưởng bản Co Có, xã Mường Lạn (Mường Ảng) Lường Văn Xiến nói với chúng tôi trong nỗi ngậm ngùi…


   Một máy phát điện dưới chân thác Hua Ta, bản Co Có

Chưa thể vươn lên bằng bản lĩnh nhà nông
   Bản có đến 85,5% hộ nghèo (77/90 hộ), nhưng không tìm đâu ra một mái nhà tranh vách đất. Hỏi ra được biết, 420 khẩu trông chờ vào có 7ha ruộng, 90 ha nương, 3ha mặt nước và gần 200 con trâu bò thì làm sao mà ngói hóa, mà tiếng xe, tiếng chuông điện thoại reo như… trúng mùa thế được. Hầu hết các hộ nghèo được Nhà nước tạo điều kiện cho vay vốn hỗ trợ với mức 8 triệu/hộ không lãi. 19 hộ được làm chuồng trại (1 triệu/hộ), hố xí (1 triệu/hộ). 5 hộ được đầu tư trâu, bò giống. 21 hộ được làm nhà 167. Tất cả hộ nghèo được cấp giống ngô, lúa hằng năm; và tất cả những nhà gianh được hỗ trợ mái ngói 134… cộng với bài toán: ăn uống, sinh hoạt khống chế không quá 10 đồng/ngày/người, thế là bản nghèo trở thành 100% ngói hóa.
   Chúng tôi tiếp tục đi dọc các khu vực định cư của bản, hiện tượng trâu, bò, lợn… cứ vô tư đi lại trong. Hầu hết không có can thiệp nào vào các hình thức chăn nuôi ở đây. Những ngày cuối của đợt rét hại, mà chẳng có sự tác động nào nhằm giảm thiệt hại cho đàn gia súc. Gần 30 con trâu, bò chết rét và chết dịch mới chỉ nhận được quan tâm duy nhất, đó là sự “chung lưng ăn thịt thóc non” để tỏ tính cộng đồng trách nhiệm với những khó khăn, mất mát của chủ nhà. Theo trưởng bản Xiến thì hàng ngàn con lợn của bản, chỉ một trận dịch lở mồm long móng cuối 2010 đầu 2011 quét hờ qua đã gần như xóa sổ. Có nhà mấy chục con, chẳng còn con nào, phải xin lại giống của anh em, bà con ở bản khác về gây lại.
    Khi được hỏi về tập quán chăn thả khó bỏ này, kể cả những người được coi là va chạm nhất bản như anh Quàng Văn Tưởng - hộ gọi là giầu có nhất bản - cũng chỉ lắc đầu. Chính thế mà hàng chục ha keo, tre… Nhà nước hỗ trợ, chưa trồng xong đã chết xong rồi. Cấy cầy hoàn toàn theo phương pháp cũ, kể cả giống, người dân cũng mạnh ai nấy gieo. Đôi khi, giống lúa ưu thế cao được phát xuống nhằm tăng năng xuất và kháng bệnh hại, cũng còn miễn cưỡng, vì tất cả đều ở nỗi… “quen rồi”.
Hộ nào cũng có điện, nhưng chỉ đủ nạp cho… “dế”
   Nhìn vào hệ thống đường dây trần “1 li” chằng chịt dọc ngang mà thấy vừa ấm lòng lại vừa lạnh đến rợn tóc gáy. Anh Xiến bảo, điện này chẳng giật nổi ai, nhưng tôi vẫn thấy trên mỗi sợi dây trần là một… dòng máu. Đến khi bước chân lên nhà anh mới thấy, cái bóng tiết kiệm 9 vôn không sáng nổi. Chỉ có cái chấm báo trên ổ điện là lập lòe màu đỏ nhạt, nhỏ như đít hạt gạo nếp. Ai cũng bảo, được cái, điện thoại bàn không dây hãng Viettl, điện thoại di động là không bao giờ lo hết pin. Mà ở nơi khác không biết, chứ ở Co Có, pin điện thoại cứ như thể là đồ vĩnh cửu. Cứ sạc vô tư cả ngày cả đêm mà không lo chai, hay phồng pin. Ti vi, đầu quay nhà nào cũng có nhờ các nguồn vốn vay, nhưng chủ yếu là để trưng bày. Cả ngày tích nước, chỉ mong mở được mỗi chương trình “giúp nhà nông làm giàu” của VTV, nhưng cũng chỉ thỏa nguyện vào mùa lũ ống. Trên lưng ngọn thác Hua Ta, máy điện còn nhiều hơn cả cuội. Nhà nhà ngăn, đắp, tranh giành từng sợi chất lỏng mong manh, với mong ước nhà mình được… nhiều sáng hơn nhà khác.

   Trưởng bản Xiến khoe phút hiếm hoi điện nước mở được ti vi

   Mùa khô là vậy, mùa lũ thì vài bữa lại thay đôi vòng bi, vài chục mét ống cứ bị nước dồn vỡ đầu vỡ cuối. Mỗi một chiếc máy phát điện như thế có giá 1,5 triệu đồng. Cộng cả đường ống dẫn nước vào tua bin và đường dây kéo điện về nhà, các hộ phải đầu tư trên dưới 2,5 triệu. Mỗi năm, một máy ngốn hết khoảng 3 - 4 trăm tiền phụ tùng thay thế, nhưng cũng chỉ có tuổi thọ vài ba năm là phải đầu tư máy mới. Hầu hết số máy điện nước cá nhân trên được mua từ các khoảng tiền vay hộ nghèo, có hộ không vay được nữa do chưa trả được nợ cũ, buộc phải bán thóc non, ngô non... Rất ít hộ có trâu, bò, lợn dư thừa. Cứ vài tháng máy lại hỏng, không vỡ bi thì mòn chổi than, vỡ bưởng, gẫy cánh quạt, bục ống dẫn nước... Mới đầu còn mời thợ tận ngoài thị tứ Xuân Tre (Mường Ảng) vào, nhưng nhiều quá thì chẳng còn tiền mà trả công. Có khi vứt chỏng chơ cả nửa năm, nhưng rồi cái lí sống phải dầu phải đèn đã khiến họ tự vật máy ra mà bổ. Lúc đầu lợn lành chữa thành lợn què, lâu dần lợn què đã được chữa thành lợn lành. Và bây giờ, ít nhất mỗi nhà có một người thợ lành nghề máy điện nước. Hỏi về những khó khăn khi sửa chữa, ai cũng cười: “Dễ hơn cả cuốc nương!”…
Có, nhưng khó dài dài
   Bản nghèo nhưng cái gì cũng có. Mỗi nhà một máy phát điện. Mỗi nhà một bộ ti vi, đầu đĩa, chảo thu phát vệ tinh cá nhân. Mỗi nhà một xe máy (họa có nhà 2 cái). Mỗi người một di động, mặc dù phần đa là dùng để… nghe nhạc. Rất nhiều người có thâm niên dùng di động nhiều năm, nhưng chưa bao giờ nạp quá 20 ngàn. Mà còn phải cố gắng, năm nạp vài lần “không thì chết”. Cái sự “có” kể cũng “giàu”. Nhưng cái giàu không được xếp hạng. Nói như một chuyên gia ngành sử học rằng, người nông dân mà bị tước nốt cái xe Tàu thì chẳng còn gì cả. Cái món tài sản cho không không đắt đối với một người có mức sống trung bình, chứ chưa nói tới nhà giàu ấy, bây giờ đang là cứu cánh cho nông dân, đặc biệt là nông dân vùng sâu vùng xa. Tất cả những thứ của nả bình dân ấy, âu cũng là sự cố gắng tự thân. Tự bớt khổ cho đôi vai, đôi chân. Tự sung sướng hóa cái nghe nhìn. Tự sáng hóa đêm tối…
   Co Có nghèo là thế, khó là thế nhưng không mấy khi được yên bình. Bản có 10 con nghiện, chuyên gia trộm cắp. Chúng ăn trộm cả ban ngày, mặc kệ có ai nhìn thấy hay không, miễn người đó không phải là chủ nhà; bởi vì ai cũng sợ chúng, nói ra chúng thù không sống nổi. Cái an phận của dân quá lớn, vẫn biết hôm nay chúng lấy của hàng xóm mình, thì ngày mai chúng lấy của nhà mình. “Mặt hàng” để chúng nhòm ngó là lợn, gà, chó, ngô, thóc… và đôi khi là máy điện nước. Thiệt hại thì khỏi bàn, 10 con nghiện ấy nhất thiết mỗi ngày phải có hơn triệu “tiền điện” để nạp cho cái cỗ máy sinh học đang rệu rã vì bệnh tật, và vì cả cơn thèm không thể cưỡng.
   Mỗi năm, một hộ ở Co Có phải đóng 2 kg thóc tiền an ninh, nhưng theo trưởng bản Xiên, an ninh hầu như không hoạt động. Chưa bao giờ đi tuần. Cũng chưa bao giờ phát giác, và phá được lấy một vụ trộm mèo, trộm gà. Họa hoằn có nhà đông anh em tự vây bắt được thì an ninh bản mới thong thả đến, thong thả lập biên bản, thong thả làm chứng, rồi lại thong thả về. Mức nộp phạt do hai bên thỏa thuận, là coi như xong một sự kiện xôn xao làng bản, nếu xảy ra ở nơi khác. Anh Xiên mới lên làm trưởng bản được vài tháng. Trong “kế hoạch” củng cố uy tín của mình, anh dự định sẽ thành lập một đội an ninh đủ mạnh để trấn áp loại “giặc từ trong mà ra” này, nhưng xem ra cũng khó vì chẳng ai thiết tha trở thành những nhân vật lừng danh về tài săn bắt trộm, cướp. Anh tổ chức mấy cuộc họp bản nhằm tìm kiếm, phát hiện những có phẩm chất, có thời gian, và đặc biệt là có sức mạnh để “xung tiến” vào “hỏa lực” của bản, nhưng đều bất thành. Anh ngán ngẩm: “Giá mà dân hăng hái, sôi nổi tham gia như những cuộc bình xét hộ nghèo để nhận hỗ trợ thì có phải là dân được nhờ không!”

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét