“Năm
nào thì những ngày hè oi ả chả hóa thành gã phù thủy, chuyên “bắt” trẻ con dìm
xuống nước. Quen làm mát bằng nước rồi. Dây điện lưới quốc gia vượt 24 km về xã
đã 11 năm nay, vượt 2km từ xã về bản đã hơn 1 năm nay, nhưng dân chỉ được nhìn
thôi”. Trưởng bản Co Có, xã Mường Lạn (Mường Ảng) Lường Văn Xiến nói với chúng
tôi trong nỗi ngậm ngùi…
Một
máy phát điện dưới chân thác Hua Ta, bản Co Có
Chưa
thể vươn lên bằng bản lĩnh nhà nông
Bản
có đến 85,5% hộ nghèo (77/90 hộ), nhưng không tìm đâu ra một mái nhà tranh vách
đất. Hỏi ra được biết, 420 khẩu trông chờ vào có 7ha ruộng, 90 ha nương, 3ha
mặt nước và gần 200 con trâu bò thì làm sao mà ngói hóa, mà tiếng xe, tiếng
chuông điện thoại reo như… trúng mùa thế được. Hầu hết các hộ nghèo được Nhà
nước tạo điều kiện cho vay vốn hỗ trợ với mức 8 triệu/hộ không lãi. 19 hộ được
làm chuồng trại (1 triệu/hộ), hố xí (1 triệu/hộ). 5 hộ được đầu tư trâu, bò
giống. 21 hộ được làm nhà 167. Tất cả hộ nghèo được cấp giống ngô, lúa hằng
năm; và tất cả những nhà gianh được hỗ trợ mái ngói 134… cộng với bài toán: ăn
uống, sinh hoạt khống chế không quá 10 đồng/ngày/người, thế là bản nghèo trở
thành 100% ngói hóa.
Chúng
tôi tiếp tục đi dọc các khu vực định cư của bản, hiện tượng trâu, bò, lợn… cứ
vô tư đi lại trong. Hầu hết không có can thiệp nào vào các hình thức chăn nuôi
ở đây. Những ngày cuối của đợt rét hại, mà chẳng có sự tác động nào nhằm giảm
thiệt hại cho đàn gia súc. Gần 30 con trâu, bò chết rét và chết dịch mới chỉ
nhận được quan tâm duy nhất, đó là sự “chung lưng ăn thịt thóc non” để tỏ tính
cộng đồng trách nhiệm với những khó khăn, mất mát của chủ nhà. Theo trưởng bản
Xiến thì hàng ngàn con lợn của bản, chỉ một trận dịch lở mồm long móng cuối
2010 đầu 2011 quét hờ qua đã gần như xóa sổ. Có nhà mấy chục con, chẳng còn con
nào, phải xin lại giống của anh em, bà con ở bản khác về gây lại.
Khi
được hỏi về tập quán chăn thả khó bỏ này, kể cả những người được coi là va chạm
nhất bản như anh Quàng Văn Tưởng - hộ gọi là giầu có nhất bản - cũng chỉ lắc
đầu. Chính thế mà hàng chục ha keo, tre… Nhà nước hỗ trợ, chưa trồng xong đã
chết xong rồi. Cấy cầy hoàn toàn theo phương pháp cũ, kể cả giống, người dân
cũng mạnh ai nấy gieo. Đôi khi, giống lúa ưu thế cao được phát xuống nhằm tăng
năng xuất và kháng bệnh hại, cũng còn miễn cưỡng, vì tất cả đều ở nỗi… “quen
rồi”.
Hộ
nào cũng có điện, nhưng chỉ đủ nạp cho… “dế”
Nhìn
vào hệ thống đường dây trần “1 li” chằng chịt dọc ngang mà thấy vừa ấm lòng lại
vừa lạnh đến rợn tóc gáy. Anh Xiến bảo, điện này chẳng giật nổi ai, nhưng tôi
vẫn thấy trên mỗi sợi dây trần là một… dòng máu. Đến khi bước chân lên nhà anh
mới thấy, cái bóng tiết kiệm 9 vôn không sáng nổi. Chỉ có cái chấm báo trên ổ
điện là lập lòe màu đỏ nhạt, nhỏ như đít hạt gạo nếp. Ai cũng bảo, được cái,
điện thoại bàn không dây hãng Viettl, điện thoại di động là không bao giờ lo
hết pin. Mà ở nơi khác không biết, chứ ở Co Có, pin điện thoại cứ như thể là đồ
vĩnh cửu. Cứ sạc vô tư cả ngày cả đêm mà không lo chai, hay phồng pin. Ti vi,
đầu quay nhà nào cũng có nhờ các nguồn vốn vay, nhưng chủ yếu là để trưng bày.
Cả ngày tích nước, chỉ mong mở được mỗi chương trình “giúp nhà nông làm giàu”
của VTV, nhưng cũng chỉ thỏa nguyện vào mùa lũ ống. Trên lưng ngọn thác Hua Ta,
máy điện còn nhiều hơn cả cuội. Nhà nhà ngăn, đắp, tranh giành từng sợi chất
lỏng mong manh, với mong ước nhà mình được… nhiều sáng hơn nhà khác.
Trưởng
bản Xiến khoe phút hiếm hoi điện nước mở được ti vi
Mùa
khô là vậy, mùa lũ thì vài bữa lại thay đôi vòng bi, vài chục mét ống cứ bị
nước dồn vỡ đầu vỡ cuối. Mỗi một chiếc máy phát điện như thế có giá 1,5 triệu
đồng. Cộng cả đường ống dẫn nước vào tua bin và đường dây kéo điện về nhà, các
hộ phải đầu tư trên dưới 2,5 triệu. Mỗi năm, một máy ngốn hết khoảng 3 - 4 trăm
tiền phụ tùng thay thế, nhưng cũng chỉ có tuổi thọ vài ba năm là phải đầu tư
máy mới. Hầu hết số máy điện nước cá nhân trên được mua từ các khoảng tiền vay
hộ nghèo, có hộ không vay được nữa do chưa trả được nợ cũ, buộc phải bán thóc
non, ngô non... Rất ít hộ có trâu, bò, lợn dư thừa. Cứ vài tháng máy lại hỏng,
không vỡ bi thì mòn chổi than, vỡ bưởng, gẫy cánh quạt, bục ống dẫn nước... Mới
đầu còn mời thợ tận ngoài thị tứ Xuân Tre (Mường Ảng) vào, nhưng nhiều quá thì
chẳng còn tiền mà trả công. Có khi vứt chỏng chơ cả nửa năm, nhưng rồi cái lí
sống phải dầu phải đèn đã khiến họ tự vật máy ra mà bổ. Lúc đầu lợn lành chữa
thành lợn què, lâu dần lợn què đã được chữa thành lợn lành. Và bây giờ, ít nhất
mỗi nhà có một người thợ lành nghề máy điện nước. Hỏi về những khó khăn khi sửa
chữa, ai cũng cười: “Dễ hơn cả cuốc nương!”…
Có,
nhưng khó dài dài
Bản
nghèo nhưng cái gì cũng có. Mỗi nhà một máy phát điện. Mỗi nhà một bộ ti vi,
đầu đĩa, chảo thu phát vệ tinh cá nhân. Mỗi nhà một xe máy (họa có nhà 2 cái).
Mỗi người một di động, mặc dù phần đa là dùng để… nghe nhạc. Rất nhiều người có
thâm niên dùng di động nhiều năm, nhưng chưa bao giờ nạp quá 20 ngàn. Mà còn
phải cố gắng, năm nạp vài lần “không thì chết”. Cái sự “có” kể cũng “giàu”.
Nhưng cái giàu không được xếp hạng. Nói như một chuyên gia ngành sử học rằng,
người nông dân mà bị tước nốt cái xe Tàu thì chẳng còn gì cả. Cái món tài sản
cho không không đắt đối với một người có mức sống trung bình, chứ chưa nói tới
nhà giàu ấy, bây giờ đang là cứu cánh cho nông dân, đặc biệt là nông dân vùng
sâu vùng xa. Tất cả những thứ của nả bình dân ấy, âu cũng là sự cố gắng tự
thân. Tự bớt khổ cho đôi vai, đôi chân. Tự sung sướng hóa cái nghe nhìn. Tự
sáng hóa đêm tối…
Co
Có nghèo là thế, khó là thế nhưng không mấy khi được yên bình. Bản có 10 con
nghiện, chuyên gia trộm cắp. Chúng ăn trộm cả ban ngày, mặc kệ có ai nhìn thấy
hay không, miễn người đó không phải là chủ nhà; bởi vì ai cũng sợ chúng, nói ra
chúng thù không sống nổi. Cái an phận của dân quá lớn, vẫn biết hôm nay chúng
lấy của hàng xóm mình, thì ngày mai chúng lấy của nhà mình. “Mặt hàng” để chúng
nhòm ngó là lợn, gà, chó, ngô, thóc… và đôi khi là máy điện nước. Thiệt hại thì
khỏi bàn, 10 con nghiện ấy nhất thiết mỗi ngày phải có hơn triệu “tiền điện” để
nạp cho cái cỗ máy sinh học đang rệu rã vì bệnh tật, và vì cả cơn thèm không
thể cưỡng.
Mỗi
năm, một hộ ở Co Có phải đóng 2 kg thóc tiền an ninh, nhưng theo trưởng bản
Xiên, an ninh hầu như không hoạt động. Chưa bao giờ đi tuần. Cũng chưa bao giờ
phát giác, và phá được lấy một vụ trộm mèo, trộm gà. Họa hoằn có nhà đông anh
em tự vây bắt được thì an ninh bản mới thong thả đến, thong thả lập biên bản,
thong thả làm chứng, rồi lại thong thả về. Mức nộp phạt do hai bên thỏa thuận,
là coi như xong một sự kiện xôn xao làng bản, nếu xảy ra ở nơi khác. Anh Xiên
mới lên làm trưởng bản được vài tháng. Trong “kế hoạch” củng cố uy tín của
mình, anh dự định sẽ thành lập một đội an ninh đủ mạnh để trấn áp loại “giặc từ
trong mà ra” này, nhưng xem ra cũng khó vì chẳng ai thiết tha trở thành những
nhân vật lừng danh về tài săn bắt trộm, cướp. Anh tổ chức mấy cuộc họp bản nhằm
tìm kiếm, phát hiện những có phẩm chất, có thời gian, và đặc biệt là có sức
mạnh để “xung tiến” vào “hỏa lực” của bản, nhưng đều bất thành. Anh ngán ngẩm:
“Giá mà dân hăng hái, sôi nổi tham gia như những cuộc bình xét hộ nghèo để nhận
hỗ trợ thì có phải là dân được nhờ không!”


Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét