25 tháng 2, 2013

LẶNG LẼ BẢN SẲNG

   Nằm lọt vào bụng dẫy núi “rào chắn bản”, bản Sẳng, xã Mường Đăng (Tuần Giáo - Điện Biên) vốn chẳng có biểu hiện gì sôi nổi kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay, và có lẽ còn trầm kha hơn bởi căn bệnh lạc hậu, cũng như mọi sự quan tâm vẫn cứ nhùng nhằng nửa ở nửa… đi như bây giờ! Kinh tế bản Sẳng thì chẳng ai nhắc đến bao giờ, nhưng nợ nần bản Sẳng lại được xem như một chuyện dài kỳ không kém phần hấp dẫn.

    Nhọc nhằn định cư…
     Cách nay khoảng 100 năm, theo dòng người chạy Tây từ Thuận Châu (Sơn La) vào 2 bản Ngối và bản Cáy, (xã Mường Đăng - Tuần Giáo - Điện Biên) hình thành nên xã Mường Đăng bây giờ, có một gia đình đã chọn lòng “Suối Chảy” (bản Sẳng) làm nơi ẩn náu trước mối đe dọa của cả giặc giã lẫn đói kém. Thung lũng hình chiếc máng sâu lòng hẹp miệng có con suối Nậm Cô ở chính giữa, quanh năm nghiêng đầy ắp nước từ Tây Bắc xuống Đông Nam . Từ lúc có 1 nóc nhà với gần chục nhân khẩu của cái gia đình “thành hoàng” đến khi có tới 64 hộ, 397 khẩu của 3 dòng họ, cả vì áo cơm lẫn nghe theo tiếng gọi tình yêu tìm về thì đất vẫn cứ chỉ vẻn vẹn 1.510 ha. Dưới bằng ngập nước trên núi dốc dựng, đến nỗi hạt giống thả xuống mười phần chỉ đọng lại ba. Công cuộc mưu sinh của dân bản như được đóng cọc vào lòng máng ấy, qua suốt một thế kỷ chỉ có 8,5 ha ruộng nước và vài chục ngàn m2 ao được khai lập. Đời sống cao hay thấp phụ thuộc hoàn toàn vào 541m2 ruộng, nương chia đều cho mỗi khẩu. Được mùa đã đói, mất mùa càng đói. Tháng ba ngày tám trông chờ cả vào củ khúc khắc, mật ong, bông chít, bông lau; thậm chí cả những chai rượu sâu và gỗ lậu trên rừng. Mường Đăng xưa vốn là “cái mỏ” gỗ pơ mu, nhưng giờ chỉ còn được mượn làm con đường đen để bọn lâm tặc vận chuyển gỗ quí bằng những đôi vai bọc thép, đi bộ đằng đẵng suốt mấy ngày trời. Khí hậu bản Sẳng khó tính như bà chửa. Bỗng đấy mưa vần gió thốc. Nhất là về mùa đông, sương muối khiến chẳng thứ cây gì kết quả được, chính thế mà cả hai khu của bản chẳng có lấy một vườn cây trái, ngoài dăm bảy khóm tre được khai thác triệt để nên cây non nhiều hơn cây già. Rau xanh mỗi nhà cũng chỉ vãi một khoảnh trên nương vào mùa mưa, mùa khô thường dùng “canh cải tiến” là muối, mì chính hòa nước suối. Cá bản Sẳng chỉ phát triển được một mùa, mặc dù nước ở đây không thiếu, rét đến không chết thì cũng rơi vào trạng thái ngủ đông. Cá thương phẩm lặng lẽ còi lại thành cá… giống. Đến cả những đàn dê, vốn được trời phú cho những bộ lông xù gấp vài lần dê nơi khác nhưng cũng chỉ chịu đựng được đến cuối thu. Vụ rét 2005 đã cướp đi đàn dê của chi hội cựu chiến binh khi chống được rét thì đàn dê lại không thể kháng bệnh phát sinh do rét.
   … và những chuyện thường ngày ở bản
    Trưởng bản Lò Văn Xuyến ngậm ngùi nói về 72% hộ nghèo, mỗi nhà một vẻ. Theo anh sang “vùng đặc biệt” của bản, sau một thôi cuốc bộ, ngoái đầu nhìn lại 33 hộ bên này suối Nậm Cô được kết nối với 31 hộ bên kia bởi một con đường mòn và chiếc cầu tre đan, kê chênh vênh trên những rọ đá chỉ phục vụ một mùa nước nhỏ mà thấy hưu hắt, nghèn nghẹn. Cả bản Sẳng có 27 chiếc xe máy và 28 bộ thu sóng truyền hình, theo cựu trưởng bản Lò Văn Hiến thì 100% là đi mua cắm với giá rất cao, rồi trả dần 3 - 4 năm bằng thóc, ngô, sắn hoặc bằng gia súc. Có hộ chỉ có 500 ngàn, nhưng do quen biết sơ sơ với chủ đại lý xe máy ở trung tâm xã, nên cũng đem được một chiếc xe về. Có điều, xe đi đã hỏng mà vẫn chưa có đăng ký do tiền chưa trả xong nên chủ đại lý giữ lại giấy hải quan. Gia đình anh Lò Văn Biên, vì không còn đủ sức gánh nông sản, cuốc bộ hơn 4 tiếng ra thị trấn bán nên 2003 đành đem con trâu đi đổi lấy chiếc xe Win Tàu trị giá 9,5 triệu. Ba năm qua, anh Biên đã phải bán 1 tạ lợn, hàng tấn thóc, ngô… và vay một suất vốn ngân hàng chính sách “giúp đỡ phụ nữ nghèo” của vợ, nhưng vẫn còn nợ lại 500 ngàn. Khi chúng tôi đến, “chiếc chân máy” của anh đã nằm đắp chiếu nửa năm. Hỏi, anh cười trừ không nói, nhưng ông Nghiên - bố đẻ anh Biên lại như trút được niềm ấm ức: “Cái xe không giấy tờ này ốm không có tiền chữa. Vụ này, trừ ăn chỉ đủ trả nợ bộ thu sóng truyền hình, cái ti vi mua từ năm kia và, tiền chuộc xe ra khỏi kho công an. Tiền mua cái xe này và tiền vi phạm luật giao thông, đủ mua 2 cái khác rồi”. Không riêng bản Sẳng, ở cả những nơi khác, những người không chịu được sự quyến rũ của các nhu cầu hưởng thụ vật chất đã cầm cố đất ở, đất canh tác, bóp miệng ăn người lớn, sự học trẻ con… để mua sắm những thứ xa xỉ, không thật cần thiết dẫn dến nợ nần điêu đứng. Có vụ đem nhau ra tòa, có vụ trốn nhà đi chạy nợ… Tôi từng chứng kiến cảnh người dân dẫn một lượt hơn chục chủ nợ, từ xe máy, ti vi, nợ tiền làm nhà, tiền cưới con, làm đám ma, tiền ăn, tiền học… ra, rồi chỉ xuống ruộng lúa; chỉ một loáng, các chủ nợ tự gặt, tự đập, tự quạt sạch không sót lại một hạt thóc. Chính quyền địa phương đã không ít lần phải giải quyết xung đột giữa các chủ nợ tranh nhau bắt nợ.
     Với bản Sẳng nói riêng, Mường Đăng nói chung còn có nhiều chuyện đáng nói như tục cúng ma, cưới hỏi, sinh con, xin tuổi… mà từ lâu đã trở thành nỗi lo đối với các hộ nghèo. Nhà có người ốm, muốn đi viện phải “báo cáo” ma nhà, ma họ, ma bản… bằng một con thú 4 chân, hai con thú hai chân và hàng chục cân rượu, gạo, trứng... Khi về cũng tương tự, phải xin ma cho “nhập khẩu” nếu không sẽ không biết nhà, họ, bản vừa có thêm… người mới. Cũng vì nợ nần bế tắc mà 2002, anh Lường Văn Quynh, bản Pá Ban (Mường Đăng) buộc để con nằm nhà chờ chết, do đi viện quá nhiều, không còn vay đâu được nữa. Tục cưới cũng làm khổ không riêng gì ai ở bản Sẳng. Người ta lên danh sách những nhân vật quan trọng trong nhà, trong họ; trong bản, xã… rồi sắm cho mỗi vị, người bộ com lê, người đôi giày da, bộ váy… . Các vị có tên được nhận quà dù được báo trước hay bị động, cũng phải dốc ra “mừng” lại gia chủ từ 20-50% giá trị quà tặng. Nhà có đám suy kiệt đã đành, người đi đám cũng khốn nạn không kém. Quà mừng chẳng dùng, cũng chẳng bán được, đành chờ con em lấy vợ lấy chồng để còn tiêu thụ. Được biết, vì gần chục đám đã có người bán ruộng, bán bò, thậm chí giả ốm liệt giường hàng nửa tháng nhưng vẫn không… thoát. Tuần trước gia đình anh bạn giáo viên có ông bố quy tiên ở tuổi 97. Xin chia buồn vì cái lẽ thường tình sinh lão bệnh tử, nhưng cũng mừng cho anh bởi hồng phúc, thiên định cho ông cụ nhà anh đại thượng thọ, lại ra đi trong thanh thản, sạch sẽ và mát mẻ. Thế nhưng, cái hủ tục đè nặng hàng trăm năm qua thì dường như không hề có dấu hiệu mát mẻ nào. Ngày cao điểm, gia đình anh tiếp tới 500 người, đến mức thịt một con trâu, 6 con lợn và hàng trăm con gà rồi chia cho từng nhà, từng người đến viếng tự tìm nơi nấu nướng, ăn uống no say vì gia đình không thể phục vụ nổi. Khi “chia buồn” với tôi, anh quên bẵng mọi chuyện, chỉ than: “May nhà có 3 anh em, chứ phải con độc đinh sợ rằng theo bố luôn”.
***
     Nghèo, nhiều luật tục, nhiều nợ và chưa từng có người tốt nghiệp THPT, là những gì có ở bản Sẳng. Hiện, bằng những chính sách của ngành giáo dục nhằm  giúp con em dân tộc thiểu số ra ngoài thị trấn học  THPT, thì bản Sẳng cũng chỉ mới có 2 em trong số hàng chục thanh niên vừa thất học vừa thất nghiệp đang chờ xây dựng gia đình. Sự quan tâm của Nhà nước đến với bản Sẳng mới là hơn 100 triệu đồng tiền vốn xóa đói giảm nghèo, của các tổ chức CCB, phụ nữ, nông dân… nhưng số 106 con trâu, bò; 450 con lợn và 2000 con gà vẫn dường như không tăng trưởng. 8,5ha ruộng nước thì có đến 3/4 phập phù do đập thủy lợi Noong Sẳng mới được đầu tư 400m kênh bê tông, còn trên dưới 3000m kênh đất, vỡ bục bất kỳ khiến lúc cần thì nước chẳng về, khi không cần thì đành phá cho mương vỡ ra hướng khác. Hy vọng, trước ngưỡng cửa chia tách xã Mường Đăng thành 2 xã Mường Đăng và Ngối Cáy, bản Sẳng sẽ có cơ hội được đầu tư nhiều hơn nữa, hoàn thiện hơn nữa. Không như công trình điện lưới quốc gia năm 2002, trong khi cả xã hầu hết đã có điện thì riêng 31 hộ bên kia suối của bản Sẳng phải tự gánh sỏi, cát, đi khiêng cột, đóng tiền thuê xe chở xi măng; rồi tự dựng 13 chiếc cột, tự kéo dây (không biết có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật?), mua công tơ để được đóng điện sau trung tâm bản tròn 1 năm. Lý do là đơn vị thi công (Công ty điện lực 1) cho rằng “Nhà nước chỉ cho có thế, muốn có điện thì phải đóng góp thêm”. Nhưng Bí thư Đảng ủy xã Lò Văn Yên lại cho biết, đây là dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ, cho cả công tơ, và thiết kế đến từng cụm 4-5 hộ dân. Chuyện “quên” 31 hộ dân ở bản Sẳng mong sao chỉ trường hợp là hy hữu(!)

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét