Nằm lọt vào bụng dẫy núi “rào chắn bản”, bản Sẳng, xã Mường
Đăng (Tuần Giáo - Điện Biên) vốn chẳng có biểu hiện gì sôi nổi kể từ đầu thế kỷ
20 đến nay, và có lẽ còn trầm kha hơn bởi căn bệnh lạc hậu, cũng như mọi sự
quan tâm vẫn cứ nhùng nhằng nửa ở nửa… đi như bây giờ! Kinh tế bản Sẳng thì
chẳng ai nhắc đến bao giờ, nhưng nợ nần bản Sẳng lại được xem như một chuyện
dài kỳ không kém phần hấp dẫn.
Nhọc nhằn
định cư…
Cách nay khoảng 100 năm, theo dòng
người chạy Tây từ Thuận Châu (Sơn La) vào 2 bản Ngối và bản Cáy, (xã Mường Đăng
- Tuần Giáo - Điện Biên) hình thành nên xã Mường Đăng bây giờ, có một gia đình
đã chọn lòng “Suối Chảy” (bản Sẳng) làm nơi ẩn náu trước mối đe dọa của cả giặc
giã lẫn đói kém. Thung lũng hình chiếc máng sâu lòng hẹp miệng có con suối Nậm
Cô ở chính giữa, quanh năm nghiêng đầy ắp nước từ Tây Bắc xuống Đông Nam . Từ lúc có
1 nóc nhà với gần chục nhân khẩu của cái gia đình “thành hoàng” đến khi có tới
64 hộ, 397 khẩu của 3 dòng họ, cả vì áo cơm lẫn nghe theo tiếng gọi tình yêu
tìm về thì đất vẫn cứ chỉ vẻn vẹn 1.510 ha. Dưới bằng ngập nước trên núi dốc
dựng, đến nỗi hạt giống thả xuống mười phần chỉ đọng lại ba. Công cuộc mưu sinh
của dân bản như được đóng cọc vào lòng máng ấy, qua suốt một thế kỷ chỉ có 8,5
ha ruộng nước và vài chục ngàn m2 ao
được khai lập. Đời sống cao hay thấp phụ thuộc hoàn toàn vào 541m2 ruộng, nương chia đều cho mỗi khẩu.
Được mùa đã đói, mất mùa càng đói. Tháng ba ngày tám trông chờ cả vào củ khúc
khắc, mật ong, bông chít, bông lau; thậm chí cả những chai rượu sâu và gỗ lậu
trên rừng. Mường Đăng xưa vốn là “cái mỏ” gỗ pơ mu, nhưng giờ chỉ còn được mượn
làm con đường đen để bọn lâm tặc vận chuyển gỗ quí bằng những đôi vai bọc thép,
đi bộ đằng đẵng suốt mấy ngày trời. Khí hậu bản Sẳng khó tính như bà chửa. Bỗng
đấy mưa vần gió thốc. Nhất là về mùa đông, sương muối khiến chẳng thứ cây gì
kết quả được, chính thế mà cả hai khu của bản chẳng có lấy một vườn cây trái,
ngoài dăm bảy khóm tre được khai thác triệt để nên cây non nhiều hơn cây già.
Rau xanh mỗi nhà cũng chỉ vãi một khoảnh trên nương vào mùa mưa, mùa khô thường
dùng “canh cải tiến” là muối, mì chính hòa nước suối. Cá bản Sẳng chỉ phát
triển được một mùa, mặc dù nước ở đây không thiếu, rét đến không chết thì cũng
rơi vào trạng thái ngủ đông. Cá thương phẩm lặng lẽ còi lại thành cá… giống.
Đến cả những đàn dê, vốn được trời phú cho những bộ lông xù gấp vài lần dê nơi
khác nhưng cũng chỉ chịu đựng được đến cuối thu. Vụ rét 2005 đã cướp đi đàn dê
của chi hội cựu chiến binh khi chống được rét thì đàn dê lại không thể kháng
bệnh phát sinh do rét.
… và những
chuyện thường ngày ở bản
Trưởng bản Lò Văn Xuyến ngậm ngùi nói
về 72% hộ nghèo, mỗi nhà một vẻ. Theo anh sang “vùng đặc biệt” của bản, sau một
thôi cuốc bộ, ngoái đầu nhìn lại 33 hộ bên này suối Nậm Cô được kết nối với 31
hộ bên kia bởi một con đường mòn và chiếc cầu tre đan, kê chênh vênh trên những
rọ đá chỉ phục vụ một mùa nước nhỏ mà thấy hưu hắt, nghèn nghẹn. Cả bản Sẳng có
27 chiếc xe máy và 28 bộ thu sóng truyền hình, theo cựu trưởng bản Lò Văn Hiến
thì 100% là đi mua cắm với giá rất cao, rồi trả dần 3 - 4 năm bằng thóc, ngô,
sắn hoặc bằng gia súc. Có hộ chỉ có 500 ngàn, nhưng do quen biết sơ sơ với chủ
đại lý xe máy ở trung tâm xã, nên cũng đem được một chiếc xe về. Có điều, xe đi
đã hỏng mà vẫn chưa có đăng ký do tiền chưa trả xong nên chủ đại lý giữ lại
giấy hải quan. Gia đình anh Lò Văn Biên, vì không còn đủ sức gánh nông sản,
cuốc bộ hơn 4 tiếng ra thị trấn bán nên 2003 đành đem con trâu đi đổi lấy chiếc
xe Win Tàu trị giá 9,5 triệu. Ba năm qua, anh Biên đã phải bán 1 tạ lợn, hàng
tấn thóc, ngô… và vay một suất vốn ngân hàng chính sách “giúp đỡ phụ nữ nghèo”
của vợ, nhưng vẫn còn nợ lại 500 ngàn. Khi chúng tôi đến, “chiếc chân máy” của
anh đã nằm đắp chiếu nửa năm. Hỏi, anh cười trừ không nói, nhưng ông Nghiên - bố đẻ
anh Biên lại như trút được niềm ấm ức: “Cái xe không giấy tờ này ốm không có
tiền chữa. Vụ này, trừ ăn chỉ đủ trả nợ bộ thu sóng truyền hình, cái ti vi mua
từ năm kia và, tiền chuộc xe ra khỏi kho công an. Tiền mua cái xe này và tiền
vi phạm luật giao thông, đủ mua 2 cái khác rồi”. Không riêng bản Sẳng, ở cả
những nơi khác, những người không chịu được sự quyến rũ của các nhu cầu hưởng
thụ vật chất đã cầm cố đất ở, đất canh tác, bóp miệng ăn người lớn, sự học trẻ
con… để mua sắm những thứ xa xỉ, không thật cần thiết dẫn dến nợ nần điêu đứng.
Có vụ đem nhau ra tòa, có vụ trốn nhà đi chạy nợ… Tôi từng chứng kiến cảnh
người dân dẫn một lượt hơn chục chủ nợ, từ xe máy, ti vi, nợ tiền làm nhà, tiền
cưới con, làm đám ma, tiền ăn, tiền học… ra, rồi chỉ xuống ruộng lúa; chỉ một
loáng, các chủ nợ tự gặt, tự đập, tự quạt sạch không sót lại một hạt thóc.
Chính quyền địa phương đã không ít lần phải giải quyết xung đột giữa các chủ nợ
tranh nhau bắt nợ.
Với bản Sẳng nói riêng, Mường Đăng nói
chung còn có nhiều chuyện đáng nói như tục cúng ma, cưới hỏi, sinh con, xin
tuổi… mà từ lâu đã trở thành nỗi lo đối với các hộ nghèo. Nhà có người ốm, muốn
đi viện phải “báo cáo” ma nhà, ma họ, ma bản… bằng một con thú 4 chân, hai con
thú hai chân và hàng chục cân rượu, gạo, trứng... Khi về cũng tương tự, phải
xin ma cho “nhập khẩu” nếu không sẽ không biết nhà, họ, bản vừa có thêm… người
mới. Cũng vì nợ nần bế tắc mà 2002, anh Lường Văn Quynh, bản Pá Ban (Mường
Đăng) buộc để con nằm nhà chờ chết, do đi viện quá nhiều, không còn vay đâu
được nữa. Tục cưới cũng làm khổ không riêng gì ai ở bản Sẳng. Người ta lên danh
sách những nhân vật quan trọng trong nhà, trong họ; trong bản, xã… rồi sắm cho
mỗi vị, người bộ com lê, người đôi giày da, bộ váy… . Các vị có tên được nhận
quà dù được báo trước hay bị động, cũng phải dốc ra “mừng” lại gia chủ từ
20-50% giá trị quà tặng. Nhà có đám suy kiệt đã đành, người đi đám cũng khốn
nạn không kém. Quà mừng chẳng dùng, cũng chẳng bán được, đành chờ con em lấy vợ
lấy chồng để còn tiêu thụ. Được biết, vì gần chục đám đã có người bán ruộng,
bán bò, thậm chí giả ốm liệt giường hàng nửa tháng nhưng vẫn không… thoát. Tuần
trước gia đình anh bạn giáo viên có ông bố quy tiên ở tuổi 97. Xin chia buồn vì
cái lẽ thường tình sinh lão bệnh tử, nhưng cũng mừng cho anh bởi hồng phúc,
thiên định cho ông cụ nhà anh đại thượng thọ, lại ra đi trong thanh thản, sạch
sẽ và mát mẻ. Thế nhưng, cái hủ tục đè nặng hàng trăm năm qua thì dường như
không hề có dấu hiệu mát mẻ nào. Ngày cao điểm, gia đình anh tiếp tới 500
người, đến mức thịt một con trâu, 6 con lợn và hàng trăm con gà rồi chia cho
từng nhà, từng người đến viếng tự tìm nơi nấu nướng, ăn uống no say vì gia đình
không thể phục vụ nổi. Khi “chia buồn” với tôi, anh quên bẵng mọi chuyện, chỉ
than: “May nhà có 3 anh em, chứ phải con độc đinh sợ rằng theo bố luôn”.
***
Nghèo, nhiều luật tục, nhiều nợ và
chưa từng có người tốt nghiệp THPT, là những gì có ở bản Sẳng. Hiện, bằng những
chính sách của ngành giáo dục nhằm giúp
con em dân tộc thiểu số ra ngoài thị trấn học THPT, thì bản Sẳng cũng chỉ mới có 2
em trong số hàng chục thanh niên vừa thất học vừa thất nghiệp đang chờ xây dựng
gia đình. Sự quan tâm của Nhà nước đến với bản Sẳng mới là hơn 100 triệu đồng
tiền vốn xóa đói giảm nghèo, của các tổ chức CCB, phụ nữ, nông dân… nhưng số
106 con trâu, bò; 450 con lợn và 2000 con gà vẫn dường như không tăng trưởng.
8,5ha ruộng nước thì có đến 3/4 phập phù do đập thủy lợi Noong Sẳng mới được
đầu tư 400m kênh bê tông, còn trên dưới 3000m kênh đất, vỡ bục bất kỳ khiến lúc
cần thì nước chẳng về, khi không cần thì đành phá cho mương vỡ ra hướng khác.
Hy vọng, trước ngưỡng cửa chia tách xã Mường Đăng thành 2 xã Mường Đăng và Ngối
Cáy, bản Sẳng sẽ có cơ hội được đầu tư nhiều hơn nữa, hoàn thiện hơn nữa. Không
như công trình điện lưới quốc gia năm 2002, trong khi cả xã hầu hết đã có điện
thì riêng 31 hộ bên kia suối của bản Sẳng phải tự gánh sỏi, cát, đi khiêng cột,
đóng tiền thuê xe chở xi măng; rồi tự dựng 13 chiếc cột, tự kéo dây (không biết
có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật?), mua công tơ để được đóng điện sau trung tâm bản
tròn 1 năm. Lý do là đơn vị thi công (Công ty điện lực 1) cho rằng “Nhà nước
chỉ cho có thế, muốn có điện thì phải đóng góp thêm”. Nhưng Bí thư Đảng ủy xã
Lò Văn Yên lại cho biết, đây là dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ, cho cả
công tơ, và thiết kế đến từng cụm 4-5 hộ dân. Chuyện “quên” 31 hộ dân ở bản
Sẳng mong sao chỉ trường hợp là hy hữu(!)
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét