28 tháng 2, 2013

MÙA KHÓI NƯƠNG



   Hình ảnh những sợi khói nương lơ đễnh, lẫn mất vào mây cuối ngày cứ nhằng nhẵng theo tôi suốt một chặng đời. Mỗi khi nhà ai đó nhen bếp, là tôi lại thấy trong lòng trồi lên dấu ấn tuổi thơ đầy ắp khó nhọc.
Từ sau tết Nguyên Đán đến hết tháng năm dương, người ta gọi là khoảng thời gian giáp hạt. Rồi cái mốc thời gian ấy, dần được biến cải thành hai tiếng “tháng ba”, hay “ngày tám” hết sức trừu tượng, chẳng liên quan gì, nhưng khi nói lên thì hầu như tất cả đều hiểu một cách chính xác quãng ngày đói bần đói cùng. Chúng tôi thì đơn giản hơn, gọi là mùa khói nương. Cái mùa thơ mộng và ác mộng ấy sao mà dài đến thế, dài như thể xong xuôi cả một đời người...
Lúa, ngô, khoai, sắn… năm nào cũng dừng chân ngay tại vạch Tết, chẳng bao giờ theo nổi hết “tháng ba”. Cây rơm gầy từ biệt lũ trâu ngay từ những ngày còn nặng vị sương muối. Chiếc lá thọ nhất cũng đã rời cành sau trận mưa đông dai như mùa đói… “Tháng ba” là hòn đá sít, chẳng ai gặm nổi. Con ngựa đầu đàn mừng rống lên khi mắt gặp phải vũng bùn, nước cứ nhỏ dần theo từng cơn gió Lào sưởi đốt. Nó lên gân để giữ của, nhưng rồi, họng vẫn khô cháy sau một lần nín rít dở dang. Bùn xông vào họng, cay vãi nước mắt. Những mảng nương sạch nhẵn như lau, phơi mình ra chờ từng hạt sương trượt chân rụng xuống, để duy trì những mầm cỏ dại đang ém mình dưới lớp màu đã trắng lốp vì ải. Một vài đống cỏ khô được gon lên, tránh xa bìa rừng, tự nhiên bốc cháy. Khói đu mình vào trời xanh, giống như một chiếc cầu bắc lên giời cho cóc kiện mưa.
Mùa khói nương nào, những ngón tay cũng bè ra, mỏng lại. Mắt thì mờ đi vì khói và vì bụng rỗng, nhưng tai lại thính như chưa bao giờ thính hơn, đến nỗi có thể nghe thấy tiếng củ mài, củ nâu thở thì thào dưới ba thước đất. Mùa khói nương như vận chặt vào từng kiếp người, qua hết thế hệ này tới thế hệ khác. Đã ba tháng ròng, tôi chưa biết mùi cơm gạo. Mài rừng nhiều như cỏ, nhưng vẫn thưa dần mỗi độ khói nương. Mỗi bước chân vội vã qua khe, qua dốc, hiện trạng của khu rừng vẫn cần mẫn hiện về, in khắc vào giác quan ghi nhớ. Chuỗi ngày sau đấy, chẳng phải đắn đo xem đi đâu, vào mảnh rừng nào thì có củ nâu, củ mài; có củi, có dây bó củi; có măng, có mộc nhĩ, có nấm, có rau dại… Một chút calo ít ỏi được tiết kiệm cho việc làm sạch những mảnh nương, chờ ngày xuống hạt.
Cứ thế, mùa mưa năm nay thay đổi số phận tháng ba ngày tám sang năm. Nhưng hình như, chẳng năm nào khác được năm nào. Nhà tôi chưa bao giờ xúc nhầm lúa giống. Vậy mà năm ấy, lúa giống rút cuộc cũng chẳng còn. Phương châm “Đói ăn rau, đau uống thuốc” bỗng năm nay chẳng đúng nữa. Chị gái tôi bị bệnh gì mà uống thuốc thôi, không khỏi. Bác sĩ bảo phải ăn. Ăn cơm rặt. Vậy là giã lúa giống. Tất thẩy chưa được hai yến gạo. Mẹ sợ chị ốm dai, nên đổi cơm thành cháo. Cháo muối cá khô. Chị ốm dai thật. Ăn gần hết chỗ lúa giống mà bệnh tình vẫn vậy. Nằm liệt giường. Bệnh lạ khiến chị béo ra, trắng ra. Anh áp tôi quyết định xúc trộm hai bát gạo cuối cùng của chị. Hôm ấy, chúng tôi được một bữa cơm nấu bằng ống tre, ăn với mộc nhĩ xào muối trắng. Mỗi đứa một bát gạo mà chẳng có cảm giác gì gọi là vừa mới được ăn. Sau bữa, anh chia cho tôi một nửa cái “nồi” ống tre, chẻ ra mà nhai, mà tận hưởng nốt vị ngon ngọt của gạo ngấm đậm trong ấy. Cái vị gạo quyện với nước tre và cơn đói mãn tính đã biến thành kí ức - một kí ức để đời với hai trận đòn, một mất gạo của mẹ, và một nhắc nhớ trách nhiệm mạng người của cha…
Mùa khói nương đang rả rích đốt, rả rích cháy và rả rích nóng bỏng trong tôi! Những sợi khói lãng du, cứ cuối mỗi ngày lại hóa thành mây bay về phương trời cực lạc.
Cảm ơn mùa khói nương đã cho tôi ý chí, nghị lực và sức mạnh để chinh phục quãng đời khốn khó muôn sau!
Mùa khói nương, 2010

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét